Tuần Báo Thời Mới
Tuần báo Thời Mới phát hành tại Ontario, Canada.

Thảm họa Richard Nixon

40

Tác giả: Robert G. Kaiser
Khương An lược dịch

LTS: Trong bài viết sau đây, Robert G. Kaiser, cựu ký giả của The Washington Post tại Việt Nam trong thời chiến và có sự nghiệp hơn 50 năm tại tờ báo này, điểm ba cuốn sách về tổng thống Mỹ Richard Nixon. Theo đó, vì mưu cầu cá nhân và để bảo vệ sự nghiệp chính trị của mình, với sự trợ giúp của ngoại trưởng Henry Kissinger, Nixon đã phản bội tổng thống Nguyễn Văn Thiệu và bỏ rơi Việt Nam Cộng Hòa trong giai đoạn dầu sôi lửa bỏng của chiến tranh Việt Nam vào cuối thập niên 1960 và đầu thập niên 1970.

Việt Nam là vấn đề có tính quyết định đối với nhiệm kỳ tổng thống của Nixon, như ông đã hiểu rõ là nó sẽ hệ trọng. Mấy tháng trước khi trở thành tổng thống, Nixon quả quyết với H.R. “Bob” Haldeman, trợ tá thân cận nhất của mình, rằng “Bob à, tôi sẽ chịu kết cuộc như LBJ, trốn trong Tòa Bạch Ốc, không dám chường mặt ra đường. Tôi sẽ chấm dứt cuộc chiến đó. Chóng vánh.” Giới biểu tình phản chiến đã khiến Lyndon Johnson về vườn sớm, nhờ đó Nixon trở thành tổng thống. Trong chiến dịch vận động tranh cử năm 1968, Nixon khai thác tâm lý mệt mỏi của nước Mỹ đối với chiến tranh, ngụ ý rằng ông có kế hoạch để chấm dứt Chiến tranh Việt Nam.

“Tôi có lẽ là người cứng rắn nhất từng ở chức vụ này kể từ sau – có lẽ là kể từ sau Theodore Roosevelt.”
– Richard Nixon

Nhưng ông chẳng có kế hoạch nào cả. Oái ăm thay, thậm chí trước khi nhậm chức chính Nixon phá hỏng một cơ hội mà lẽ ra ông có thể có để tránh số phận của Johnson. Những cuốn sách được điểm trong bài này cho thấy rằng đây là một trong câu chuyện sẽ tiếp tục làm hoen ố tiếng tăm của Nixon.

Vào cuối tháng 10 năm 1968, khi những nhà đàm phán của Johnson ở Paris cuối cùng đạt được thỏa thuận với Bắc Việt để Mỹ chấm dứt ném bom và bắt đầu đàm phán về một giải pháp chính trị, Nixon chấp nhận một rủi ro cá nhân rất lớn khi phá hoại các cuộc hòa đàm trước khi chúng có thể bắt đầu. Lúc đó, các cuộc thăm dò dư luận cho thấy Hubert H. Humphrey, đối thủ Đảng Dân chủ của Nixon và phó tổng thống của Johnson, đang nổi lên rất nhanh – nhanh tới nỗi Nixon lo sợ mình sẽ thất cử tổng thống nếu có hòa ước. Bởi vậy, ông chơi một trò bẩn mà chính nó báo hiệu sẽ còn thêm nhiều trò bẩn về sau.

Richard Nixon tại một cuộc họp báo ở Tòa Bạch Ốc, tháng 10-1973. (Ảnh: David Burnett/Contact Press Images)
Richard Nixon tại một cuộc họp báo ở Tòa Bạch Ốc, tháng 10-1973. (Ảnh: David Burnett/Contact Press Images)

Trong nhiều tháng trời, Nixon đã lo ngại về một thỏa thuận phút chót, hoặc có vẻ như đạt được thỏa thuận, sẽ có lợi cho Humphrey. Vào tháng 7, ông mở kênh đối thoại riêng của mình với Nguyễn Văn Thiệu, tổng thống Việt Nam Cộng Hòa. Để làm người trung gian tiếp xúc với ông Thiệu, Nixon chọn giám đốc chiến dịch tranh cử của mình, luật sư New York John Mitchell, và Anna Chennault, góa phụ gốc Hoa của Claire Chennault, nguyên là tướng Không quân Mỹ từng chỉ huy không quân Quốc Dân Đảng trong Đệ nhị Thế chiến. Trong một cuộc họp kín (Nixon thích họp kín) tại văn phòng New York của Mitchell với Chennault và Bùi Diễm, đại sứ của Nguyễn Văn Thiệu tại Mỹ, Nixon giải thích rằng khi ông có điều muốn nhắn nhủ cho Nguyễn Văn Thiệu, ông sẽ nói với Chennault, và bà sẽ chuyển nó tới cho đại sứ để ông nhắn về Sài Gòn.

Vào tháng 9, chiến dịch tranh cử của Nixon biết được rằng một điều hệ trọng sẽ sớm được công bố ở Paris. Haldeman viết một memo gởi cho Nixon vào ngày 17 tháng 9 năm 1968 nói rằng một nguồn tin cho ông biết rằng Johnson có thể sẽ tuyên bố tạm ngừng chiến dịch oanh tạc [Bắc Việt] vào giữa tháng 10. Trong mục ghi nhật ký ngày 13 tháng 1 năm 1972, Haldeman xác định danh tánh nguồn tin này là Kissinger, viết rằng “Chúng ta phải nhớ rằng ông ta [Kissinger] đã tiết lộ thông tin cho chúng ta vào năm 68.” Kissinger lúc đó là một giáo sư Harvard đang tích cực tạo dựng quan hệ với cả hai phe Humphrey và Nixon, hẳn là hy vọng giành được một chức vụ quan trọng ở Washington bất kể ai thắng trong cuộc đua vào Tòa Bạch Ốc năm đó. Kissinger đã từng là chuyên viên tư vấn cho phái đoàn Mỹ, dù ông không trực tiếp tham gia các cuộc đàm phán khi ông tới Paris vào tháng 9 năm 1968. Richard Holbrooke, một thành viên của phái đoàn, nói rằng “Henry là người duy nhất không thuộc chính phủ mà chúng tôi được phép thảo luận về các cuộc đàm phán.”

Vào ngày 31 tháng 10, ngày Johnson tuyên bố tạm ngừng ném bom Bắc Việt và sắp sửa bắt đầu hòa đàm, Mitchell gọi cho Chennault, nói rằng ông nói “thay mặt cho ngài Nixon” và nói với bà rằng “điều hết sức quan trọng là những người bạn Việt Nam của chúng ta hiểu rõ quan điểm của Đảng Cộng hòa chúng tôi” – quan trọng là Thiệu nên đợi để có được một thỏa thuận tốt hơn từ Nixon. Cũng chiều hôm đó FBI theo dõi Chennault tới gặp Bùi Diễm, đại sứ của Thiệu. Thiết bị nghe lén của Cơ quan An ninh Quốc gia Mỹ (NSA) gài trong văn phòng ở Sài Gòn của Thiệu nghe được ông nói với các trợ tá là Nixon muốn đợi cho tới lúc tổng thống mới của Mỹ nhậm chức. Thiệu quả thực đã từ chối cử người đi đàm phán, và các cuộc hòa đàm đã không bắt đầu. Nixon thắng cử với tỷ lệ sát sao – giành được tỷ lệ phiếu phổ thông chỉ hơn 0,7%, vụ ông thắng tỷ lệ phiếu đại cử tri dễ dàng hơn.

Johnson giận tím người; ông nghĩ là Nixon đã vi phạm Đạo luật Logan; theo luật này, công dân không phải là quan chức chính phủ bị cấm can thiệp vào hoạt động ngoại giao chính thức của nhà nước. Các trợ tá đã thuyết phục được Johnson không công khai những gì ông biết về các thủ đoạn dàn xếp bí mật của Nixon, phần lớn dựa vào băng ghi âm nghe lén. Johnson tin rằng Nixon phá bỏ bất cứ cơ hội hòa bình nào trước khi ông rời nhiệm sở.

Không có bằng chứng đáng thuyết phục nào cho thấy nếu đã diễn ra hòa đàm hẳn đã thành công; nhưng nhiệm kỳ tổng thống của Nixon đã bắt đầu với một món nợ chính trị mới với Thiệu, và do không có triển vọng sớm rút khỏi cuộc chiến này, mà Nixon nói ở chỗ riêng tư là cuộc chiến không thể thắng nổi. Mấy tháng trước đó, ông nói với các chuyên viên viết diễn văn của riêng ông, “Không thể nào thắng được cuộc chiến này. Nhưng tất nhiên chúng ta không thể nói như vậy. Thực ra, chúng tôi phải dường như nói ngược lại, chỉ để giữ được đôi chút ưu thế mặc cả.”

***

Richard Nixon: “Tôi có lẽ là người cứng rắn nhất từng ở chức vụ này kể từ sau – có lẽ là kể từ sau Theodore Roosevelt.”

Henry Kissinger: “Đương nhiên.”

— Cuộc đàm thoại ở Tòa Bạch Ốc, ngày 30-6-1971

Trong những cuốn sách mới nhất này, cuốn có nhiều thông tin lý thú nhất là Nixon’s Nuclear Specter (Bóng ma hạt nhân của Nixon) của William Burr và Jeffrey P. Kimball. Sách hay hơn nhiều cái tựa và tiểu tựa vụng về của sách. Burr và Kimball khéo léo dựng lại thế lưỡng nan Việt Nam mà Nixon và Kissinger gặp phải: họ không thể thắng, nhưng họ không thể đối mặt với việc bại trận. Nixon’s Nuclear Specter thuật lại chi tiết và kỹ lưỡng những nỗ lực bất thành của Nixon và Kissinger trong năm 1969 nhằm tìm ra một cách rút khỏi Việt Nam “trong danh dự”. Như các tác giả cho thấy, với diễn biến tình hình trong năm đó, chẳng hề có danh dự chút nào.

Một ý tưởng lớn của Nixon về việc giải quyết thế lưỡng nan này là uy hiếp để buộc kẻ thù cộng sản phải chịu một thỏa thuận chấm dứt chiến tranh có thể chấp nhận được. Theo lời thuật của Haldeman trong cuốn sách của ông The Ends of Power (Những cứu cánh của quyền lực, 1978) và được Burr và Kimball trích dẫn, ông đã lý giải với Haldeman như sau:

Họ sẽ tin bất cứ lời đe dọa dùng vũ lực nào mà Nixon đưa ra vì đó là Nixon…. Tôi gọi đó là Thuyết Kẻ điên (Madman Theory), Bob à. Tôi muốn Bắc Việt tin là tôi đã tới mức mà tôi có thể làm bất cứ điều gì để ngừng chiến tranh. Chúng ta chỉ cần để lọt tới tai họ là, ‘trời đất ơi, quý vị biết là Nixon bị ám ảnh về cộng sản. Chúng tôi không thể kiềm chế ông ta khi ông ta giận dữ – và ông ta có quyền bấm nút hạt nhân’và đích thân Hồ Chí Minh sẽ có mặt ở Paris trong vòng hai ngày để cầu xin hòa bình.”

Ngoại trưởng Henry Kissinger. Hình: History.com
Ngoại trưởng Henry Kissinger. Hình: History.com

Nixon và Kissinger đã vận dụng sự kết hợp khác thường những lời đe dọa không công khai và những hành động vũ lực không tuyên bố để theo đuổi ảo tưởng này. Hành động trắng trợn nhất là oanh tạc các vùng căn cứ Việt Cộng và Bắc Việt ở Cam Bốt, gần biên giới với Việt Nam Cộng Hòa, một chiến dịch quân sự lớn vào tháng 3 năm 1969 mà đáng ngạc nhiên là được giữ kín trong nhiều tháng. Nixon cố gắng phát đi những tín hiệu “Kẻ điên”, đặc biệt nhắm tới Moscow mà cũng nhắm tới Hà Nội và Bắc Kinh, bằng nhiều cách khác nhau. Một trong những cách đó là gửi thư riêng cho Hồ Chí Minh, được chuyển bởi Jean Sainteny, một người Pháp có quan hệ cá nhân với giới lãnh đạo Bắc Việt. Nixon đã yêu cầu Sainteny Nam làm đặc sứ của ông.

Lá thư mà Sainteny chuyển cho một quan chức Bắc Việt ở Paris là một lời thỉnh cầu đứng đắn về việc đẩy nhanh hòa đàm và “mang lại phúc lành của hòa bình cho nhân dân Việt Nam dũng cảm….” Nhưng Sainteny được chỉ thị kèm theo lá thư của Nixon một thông điệp đe dọa bằng miệng ấn định hạn chót ngày 1 tháng 11 phải đạt được thỏa thuận – đúng một năm sau khi Johnson ngừng ném bom. Sainteny được chỉ thị cảnh báo rằng nếu tới khi đó mà “không đạt được một giải pháp hợp lý, ông ta [Nixon] sẽ rất tiếc là buồn phải dùng tới những biện pháp gây hậu quả và dùng vũ lực nặng nề.” Kissinger nhắc lại những ngôn từ tương tự trong một cuộc họp kín với Bắc Việt ở Paris. Tất cả những điều này điều không có tác động rõ rệt gì đối với cách hành xử của Hà Nội.

Nixon và Kissinger cũng không nhận được phản ứng hữu ích gì từ Nga và Trung Quốc. Vào mùa xuân năm 1969, Kissinger đã cố gắng dùng lời đe dọa này để tác động tới Anatoly Dobrynin, đại sứ của Liên Sô ở Washington, nhưng vô ích.

Nixon và Kissinger đều hi vọng rất lớn về hoạt động ngoại giao với hai cường quốc cộng sản, Liên Sô và Trung Quốc. Ý tưởng sáng tạo nhất và táo bạo nhất của Nixon rốt cuộc công nhận “Trung Quốc Đỏ”, “kéo nó trở vào lại cộng đồng thế giới”, như ông viết vào năm 1967, và cũng là cách để khai thác sự chia rẽ Trung-Sô, gây áp lực đối với Liên Sô, và khôi phục vị thế thống lĩnh toàn cầu của Mỹ. Cả hai người nghĩ rằng có cơ hội tốt để đàm phán những giới hạn có ý nghĩa về cuộc chạy đua vũ khí hạt nhân với Moscow. Nhưng mục tiêu chính của đường lối ngoại giao của họ cũng là tìm ra cách rút khỏi Việt Nam, và họ hy vọng uy hiếp hoặc thuyết phục các cường quốc cộng sản giúp gây áp lực buộc Bắc Việt có thỏa thuận. Họ đã chẳng bao giờ nhận được sự trợ giúp đó.

Chiến dịch bí mật oanh tạc Cam Bốt, triển khai vào tháng 3 năm 1969 – được Đại tướng Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân Earle Wheeler cổ súy, được Kissinger tán thành, và được Nixon chấp thuận – là nỗ lực đầu tiên của họ nhằm cho Bắc Việt thấy rằng họ đã nói là làm. Trong bốn năm sau đó, máy bay ném bom của Mỹ đã thả gần 2 triệu tấn bom xuống lãnh thổ Cam Bốt, một lượng khổng lồ, nhưng Bắc Việt không bao giờ thừa nhận là có biết việc ném bom này đang diễn ra.

Theo Burr và Kimball, Kissinger ủng hộ leo thang chiến tranh hơn nữa bằng một chiến dịch ném bom dữ dội xuống Bắc Việt vào năm 1969. Nixon đã cho phép lên hoạch định một chiến dịch như vậy. Cấp dưới của Kissinger và quan chức Ngũ Giác Đài đã xây dựng Chiến dịch Duck Hook (Lưỡi câu Vịt) để chuẩn bị thực hiện vào tháng 10, ngay trước khi tới hạn chót ngày 1 tháng 11 của Nixon. Ngoài ra, hải quân tiến hành các cuộc tập trận ngoài khơi Bắc Việt mà Nixon hy vọng là Hà Nội sẽ diễn giải đó là tập trận thủy lôi để tấn công cảng Hải Phòng. Đáng ngạc nhiên là, theo các tài liệu được Burr và Kimball trích dẫn, Nixon và Kissinger cũng ra lệnh thực hiện một cảnh báo hạt nhân toàn cầu không được công bố: một cuộc tập trận công phu đặt các lực lượng chiến lược của Mỹ – hỏa tiễn, tàu ngầm mang hỏa tiễn, và máy bay ném bom – vào tình thế sẵn sàng cao độ, như thể Mỹ đang chuẩn bị tiến hành một cuộc tấn công hạt nhân.

Những chi tiết ngày đặc biệt lý thú đối với tôi bởi vì tôi là một ký giả trẻ ở Việt Nam trong phần lớn hai năm 1969 và 1970 mà tôi chẳng biết gì về thủ đoạn bí mật này. Vào đầu tháng 3 năm 1969, tôi đã dừng chân ở Paris trên đường tới Sài Gòn để gặp các quan chức Mỹ tham gia hòa đàm, trong số đó có Holbrooke. Họ nói với tôi là tôi rất may mắn tới Việt Nam vừa kịp lúc để chứng kiến hồi cuối của cuộc chiến này.

Bộ trưởng Quốc Phòng Melvin Laird và Tổng thống Richard Nixon tại khuôn viên tòa Bạch Ốc, 29 tháng 6, 1973. Photo courtesy Wikipedia
Bộ trưởng Quốc Phòng Melvin Laird và Tổng thống Richard Nixon tại khuôn viên tòa Bạch Ốc, 29 tháng 6, 1973. Photo courtesy Wikipedia

Trong những tháng đầu tiên tôi ở Việt Nam, tình hình nổi cộm là chuyện “ Việt Nam hóa”, một kế hoạch do Melvin Laird, bộ trưởng quốc phòng sắc sảo về chính trị của Nixon, nghĩ ra. Ưu tiên của Laird là đưa lính Mỹ về nước. Việt Nam hóa nghĩa là chuyển giao việc đánh trận cho quân đội Việt Nam Cộng Hòa và cầu mong đạt kết quả tốt nhất khi quân Mỹ rút lui. Tới đầu năm 1970, số quân Mỹ mà có lúc đã lên tới mức cao nhất là 540.000 đã giảm 115.000, và được hứa là sẽ còn giảm nhiều nữa. Đưa quân về nước là chuyện hợp lòng dân chúng ở Mỹ, có thể giảm bớt áp lực của dân chúng đòi Nixon chấm dứt chiến tranh.

Ban đầu, kế hoạch Việt Nam hóa diễn ra suôn sẻ. Các lực lượng cộng sản nằm vùng ở Việt Nam Cộng Hòa do suy giảm trầm trọng do những tổn thất trong chiến dịch Tết Mậu Thân vào tháng 1 và 2 năm 1968, và một cuộc tấn công khác vào tháng 5 nên đã không lợi dụng được ngay các cuộc triệt thoái của quân Mỹ. Năm 1969, Việt Nam Cộng Hòa cầm cự được trong một cuộc chiến yên ắng hơn. Một kẻ thù yếu hơn cũng đã giúp chương trình bình định hóa được Mỹ bảo trợ đã giúp chính quyền đưa được tỉ lệ dân chúng cao hơn vào vòng kiểm soát của mình, đặc biệt là ở vùng đồng bằng sông Cửu Long đông dân, nơi Việt Cộng gần như biến mất vào cuối năm 1969.

Những người Mỹ sốt sắng đảm trách chương trình bình định hóa cho phép mình hy vọng. Tôi đã viết một loạt bài báo về họ cho tờ The Washington Post vào mùa thu năm đó với tựa đề “Những người lạc quan mới”. Tôi mô tả sự lạc quan của họ, nhưng nhận xét rằng không có ai trong số họ nói về chuyện thắng cuộc chiến này. Những cố vấn Mỹ sáng suốt nhất nhận ra rằng bình định hóa không thể mang lại thắng lợi; muốn thắng thì rốt cuộc cần phải đánh bại quân đội Bắc Việt hữu hiệu có hàng ngàn người cài bên trong Việt Nam Cộng Hòa, và thêm hàng chục ngàn người ở ngoại vi tại Cam Bốt và Lào. Đây chính là những lực lượng rốt cuộc thắng cuộc chiến này.

Câu chuyện được Burr và Kimball thuật lại khiến tôi sửng sốt khi cho biết Nixon và Kissinger chẳng mấy để ý tới chương trình bình định hóa hay kế hoạch Việt Nam hóa. Cuộc chiến mà tôi đưa tin nhìn chung khác biệt với cuộc chiến mà họ đang tiến hành. Bình định hóa và Việt Nam hóa là những chiến thuật trì hoãn; họ biết họ cần phải đạt được thỏa thuận với Hà Nội – cái mà họ gọi là “một giải pháp chính trị” – để chấm dứt chiến tranh. Bởi vậy mới có việc đánh bom bí mật và những lời đe dọa. Ác một nỗi là những điều đó dường như không có tác động gì ở Moscow, Bắc Kinh hay Hà Nội. Như cuốn Nixon’s Nuclear Specter nói rõ, tới cuối năm 1969, những người nắm chính sách đối ngoại của Mỹ đã thuyết phục được các mục tiêu của chiến lược của họ đạt được thỏa thuận mà họ mong muốn.

Quyết định rút quân Mỹ của họ bộc lộ rõ hơn lời đe dọa suông của Nixon về “những biện pháp gây hậu quả và dùng vũ lực nặng nề”. Không có tường thuật nào đáng tin cậy về những suy tính của Bắc Việt, nhưng phong trào phản chiến đang lên mạnh ở Mỹ dường như đã gây ấn tượng với Hà Nội nhiều hơn là cuộc tập trận thủy lôi ở Vịnh Bắc Bộ. Trong một memo gởi cho Nixon vào ngày 10 tháng 9, Kissinger thừa nhận rằng các cuộc biểu tình phản chiến và các đợt rút quân đã khuyến khích Hà Nội “án binh bất động chờ xem chúng ta làm gì” và thừa nhận nhược điểm của Thiệu và quân đội Việt Nam Cộng Hòa. Kissinger ban đầu muốn Chiến dịch Duck Hook được triển khai để khiến Bắc Việt “rối trí” nên phải chịu đàm phán được một thỏa thuận.

Nhưng tới tháng 10 Nixon không còn dám leo thang chiến tranh nữa. Ông e ngại rằng các bộ trưởng ngoại giao và quốc phòng, William Rogers và Laird, có thể từ chức để phản đối, và những cuộc biểu tình phản chiến rầm rộ vào mùa thu năm đó dường như đã khiến ông lo sợ. Nixon hủy bỏ Chiến dịch Duck Hook.

Đợt cảnh báo hạt nhân vẫn tiếp tục tiến hành, bắt đầu vào ngày 13 tháng 10. Theo Burr và Kimball, dường như Nga chẳng để ý. Họ mô tả sự phấn khích của Nixon và đặc biệt là của Kissinger khi [đại sứ Liên Sô] Dobrynin gọi điện vào ngày 17 tháng 10 để yêu cầu được gặp Nixon. Kissinger nói với Laird rằng cuộc gọi của Dobrynin cho thấy sự cảnh báo “dường như đang có tác dụng”. Haldeman ghi trong nhật ký của mình: “K nghĩ điều này rất có thể là một bước đột phá lớn, nhưng nó sẽ diễn ra trong nhiều giai đoạn. P [Nixon] thì hoài nghi hơn.”

Sự phấn khích đó nhanh chóng tan biến. Khi Dobrynin tới Tòa Bạch Ốc, chuyện cảnh báo hạt nhân đã không được nhắc tới. “Người cứng rắn nhất [ở Phòng Bầu dục] kể từ sau Theodore Roosevelt đã chuẩn bị cho một cuộc đối đầu Dobrynin. Kissinger đã cố vấn cho ông là mục đích của cuộc họp “sẽ là khiến Liên Sô lo ngại về chuyện chúng ta có thể làm trong thời gian gần ngày 1 tháng 11”. Nhưng, theo Burr và Kimball, Nixon “đã không hù dọa hay uy hiếp được chính khách lão luyện Dobrynin.” Ông nói huyên thiên; ông mất bình tĩnh; ông than phiền rằng cả Bắc Việt lẫn Bộ Chính trị Liên Sô đều đang cố gắng “phá” ông; theo lời kể của Dobrynin, ông có vẻ lo lắng và đôi khi bấn loạn.

Nixon quả thật có lúc nhớ cảnh báo rằng “Mỹ sẽ phải áp dụng những phương pháp riêng của mình để chấm dứt chiến tranh” nếu hòa đàm thất bại. Nhưng ông kết thúc bằng cách nói rằng nếu Hà Nội tiếp tục kiềm chế lực lượng của mình ở miền Nam, Mỹ sẽ đền đáp bằng cách không có hành động tấn công mới – dọa như vậy đâu hẳn là dọa. Khuya hôm đó, ông chỉ thị Kissinger gọi Dobrynin trở lại Tòa Bạch Ốc để hù dọa. Kissinger phớt lờ lệnh này.

Thuật lại cuộc nói chuyện này với Moscow, Dobrynin nhận xét rằng Nixon thiếu khả năng kiềm chế cảm xúc. Dobrynin kết luận: “Mục tiêu chính hiện nay của Nixon… là chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam, mọi chuyện khác đều là thứ yếu. Số phận của người tiền nhiệm Lyndon Johnson đang bắt đầu thật sự khiến ông ta lo lắng. Dường như điều này đang có tác động tới cảm xúc đến nỗi Nixon không thể kiềm chế mình ngay cả trong một cuộc nói chuyện với một đại sứ ngoại quốc.”

***

Thất bại hoàn toàn của những lời đe dọa trong năm 1969 nhằm thuyết phục Hà Nội nhượng bộ đã khiến Nixon và Kissinger chẳng còn lá bài tốt nào trong tay. Kế hoạch dự phòng của họ là cách mà Kissinger đã từng thảo luận khi còn làm giáo sư đại học vào năm 1967, và là cách mà ông và Nixon ngay từ đầu đã nhận ra có thể là chính sách của họ. Đó là cái gọi là giải pháp khoảng thời gian phù hợp (decent interval solution) – thỏa thuận với Hà Nội để tạo điều kiện cho quân Mỹ triệt thoái hoàn toàn (và trao trả toàn bộ tù binh Mỹ). Để đổi lại, Bắc Việt và Việt Cộng sẽ đồng ý không cố gắng chinh phục Việt Nam Cộng Hòa trong một khoảng thời gian ngắn “ví dụ trong 18 tháng hoặc một khoảng thời gian nào đó”, Kissinger đã nói như vậy với Chu Ân Lai trong một cuộc đàm đạo sau bữa ăn tối trong chuyến thăm bí mật của ông tới Bắc Kinh vào tháng 7 năm 1971 (điều này không được kể trong phần thuật lại sau này được xuất bản thành sách của Kissinger về cuộc gặp đó).

Kissinger đã đề xuất giải pháp này với Dobrynin bốn tháng sau khi Nixon nhậm chức, vào ngày 14 tháng 5 năm 1969. Báo cáo của Dobrynin về cuộc họp này cho thấy là thông điệp của Kissinger đã khiến ông ngạc nhiên. “Nixon thậm chí sẵn sàng chấp nhận bất cứ hệ thống chính trị nào ở Việt Nam Cộng Hòa, ‘miễn là [ở đây Dobrynin trích dẫn Kissinger] có một khoảng thời gian khá hợp lý từ lúc ký kết một hiệp định tới lúc một hệ thống như vậy’” hình thành. Từ bằng chứng này, cả Liên Sô lẫn Trung Quốc biết rằng Nixon sẵn sàng phản bội Thiệu nếu ông đạt được một hòa ước giúp mình không bị mất mặt.

Hai nhân vật nắm quyền điều hành chính sách của Mỹ đã không nói với các nghị sĩ Mỹ mà cũng không thông báo cho công chúng Mỹ biết đây là lập trường của họ; họ cũng không báo cho tổng thống Thiệu biết điều đó. Có lẽ những lựa chọn này cũng khôn ngoan, do lúc đó không có những phương án thay thế thực tế, nhưng chọn những cách này rồi về sau không bình luận về chúng – như cả hai người đã làm trong những cuốn sách họ xuất bản nhiều năm về sau – sẽ khiến họ dễ bị công kích khi những thế hệ sử gia tương lai bàn tới những sự kiện này.

Về thực tế, cái dở của chiến lược khoảng thời gian phù hợp là điều kiện ngầm là Bắc Việt phải chấp nhận nó. Tuy Nixon quả thật có đơn phương rút quân với kế hoạch Việt Nam hóa, ông phản bác việc bỏ rơi Việt Nam Cộng Hòa – điều ông gọi là phương án “rút nhanh”. Ông muốn Hà Nội hợp tác về giải pháp khoảng thời gian phù hợp để tạo trong vỏ bọc chính trị mà để ông có thể tuyên bố rằng con đã tìm được cách chấm dứt chiến tranh “trong danh dự” đã được hứa từ lâu. Chẳng có gì đáng ngạc nhiên do lịch sử Bắc Việt và lịch sử của Nixon, Bắc Việt nói thẳng rằng họ không tín nhiệm hay tin tưởng ông. Kết quả là chiến tranh càng leo thang.

Tới cuối năm 1970, do ông lại càng thất vọng vì bế tắc, Nixon cân nhắc việc chỉ đơn giản là tuyên bố triệt thoái hoàn toàn quân Mỹ trước cuối năm tới. Vào ngày 15 tháng 12 năm 1970, Haldeman ghi lại một cuộc nói chuyện đó với Kissinger:

Ông ta [Kissinger] nghĩ rằng bất cứ sự rút lui hoàn toàn vào năm tới sẽ là một sai lầm nghiêm trọng, vì phản ứng bất lợi đối với hành động đó có thể diễn ra rất sớm trước kỳ bầu cử năm 1972. Thay vì vậy, ông ủng hộ việc giảm can dự dần dần rồi sau đó rút lui hoàn toàn ngay vào mùa thu năm 1972 để nếu có bất cứ kết quả bất lợi nào tiếp theo, khi đã quá trễ để chúng có thể ảnh hưởng tới cuộc bầu cử.”

Kissinger, chuyên gia ngoại giao, ở đây đã trở thành cố vấn chính trị hướng dẫn cho Nixon về chiến dịch tái cử của ông. Bất luận là do Kissinger cố vấn hay do chính những tính toán của riêng mình, Nixon đã không thực hiện ý tưởng rút lui vào năm 1971.

Kéo dài chiến tranh là một lựa chọn tốn kém. Hơn 21.000 người Mỹ đã chết ở Việt Nam sau khi Nixon trở thành tổng thống, hơn một phần ba tổng số tổn thất của Mỹ trong cuộc chiến này. Thêm hàng chục ngàn người nữa bị thương. Nhưng người Mỹ chịu tổn thất ít nhất; hàng trăm người Việt mất mạng sau năm 1969. Việc ném bom Cam Bốt, và sau đó là cuộc xâm lấn năm 1970 của Nixon nhằm tìm kiếm một mục tiêu mà thực sự chẳng bao giờ tồn tại, “Trung ương Cục miền Nam” (“Central Office for South Vietnam”, COSVN), mà tình báo Mỹ nghĩ là tổng hành dinh vùng của Việt Cộng, đã góp phần khiến Cam Bốt bất ổn.

Cú đảo chánh vào tháng 3 năm 1970 lật đổ Hoàng thân Norodom Sihanouk, lãnh tụ khôn khéo của Cam Bốt đã giữ được sự độc lập và tính trung lập của quốc gia trong một khu vực nguy hiểm, lại càng gây mất ổn định, được khuyến khích bởi chủ trương của Nixon và Kissinger ủng hộ việc thành lập một quân đội Cam Bốt mới với quy mô lớn dưới trướng của Lon Nol, lãnh tụ cuộc đảo chánh. Quân đội đó chẳng bao giờ tỏ ra hữu hiệu, và chính phủ kém cỏi của Lon Nol không thể đương đầu nổi với tình hình hỗn loạn do cuộc chiến tranh ngày càng lan rộng bên trong Cam Bốt mà Nixon cổ súy. Phiến quân Khmer Đỏ, vốn khởi đầu và một nhóm nhỏ chống đối Sihanouk, đã lợi dụng tình hình hỗn loạn đó. Tới năm 1975 chúng chiếm lĩnh cả nước, và rốt cuộc sát hại khoảng hai triệu người Cam Bốt.

Trong hơn 4 năm, Nixon và Kissinger điên cuồng tìm kiếm một cách để cứu vãn cam kết của Mỹ ở Việt Nam Cộng Hòa và giảm thiểu những tác hại của việc bại trận. Nhưng họ đã làm điều đó một cách đầy hoài nghi, vụng về, và cuối cùng là tuyệt vọng. Robert Dallek lột tả bản chất của chính sách Việt Nam của họ bằng 2 từ: “một thảm họa”.

Thảm họa này mở rộng sang cả nhiệm kỳ tổng thống của Nixon. Như nhận định đáng nhớ của Haldeman, “Nếu không có chiến tranh Việt Nam, thì đã không có vụ bê bối Watergate.” Haldeman dùng thuật ngữ này không chỉ để mô tả vụ đột nhập vào Ủy ban Quốc gia Đảng Dân chủ, mà còn dùng một cách tổng quát hơn để lột tả tất thảy sự điên rồ mà John Mitchell đã gọi một cách đáng nhớ là “Những nỗi kinh hoàng Tòa Bạch Ốc”. Haldeman hiểu cuộc chiến này đã đầu độc nhiệm kỳ tổng thống của Nixon ra sao. Như Carl Bernstein viết trong bài điểm những cuốn sách của Thomas và Wiener, “Việt Nam và Watergate có mối liên hệ không thể tách rời trong nhiệm kỳ tổng thống của Nixon. Chúng là một câu chuyện đan quyện nhau về việc lạm dụng đê tiện quyền hạn tổng thống, sự báo thù, sự nghi kỵ và sự vô pháp luật.”

Có thể bạn sẽ thích
Bình luận
Loading...