Nhà nước bảo đảm thu nhập tối thiểu cho người dân: Ý tưởng táo bạo nhưng có khả thi?

27

LTS: Gần đây, một số nước Châu Âu như Thụy Sĩ, Phần Lan và Hà Lan cân nhắc chính sách xóa nghèo và tạo bình đẳng bằng cách nhà nước bảo đảm cho người dân một mức thu nhập tối thiểu hàng năm. Khái niệm này tựu chung là nhà nước sẽ bảo đảm rằng tất cả mọi công dân có đủ thu nhập để trang trải cho các nhu cầu cơ bản. Khái niệm này đang được giới chính khách thuộc cả cánh tả lẫn cánh hữu ở Canada quan tâm, và nhiều địa phương kêu gọi áp dụng.

Chính khách ở các cấp chính quyền đô thị, tỉnh bang và liên bang Canada đang thảo luận ý tưởng thu nhập cơ bản bảo đảm (guaranteed basic income, GBI), còn gọi là thu nhập tối thiểu, một khái niệm táo bạo được tất cả các đảng phái ủng hộ. Theo ngân sách tỉnh bang đệ trình hôm thứ Năm 25-2, Ontario hứa sẽ tiến hành một chương trình thí điểm thu nhập cơ bản để nghiên cứu xem việc cấp cho người dân một mức thu nhập tối thiểu bảo đảm có phải là cách hữu hiệu để trợ cấp xã hội. Chương trình này sẽ kiểm nghiệm các quan điểm cho rằng thu nhập tối thiểu sẽ giúp người lao động nghèo và tiết kiệm về chi phi y tế và quản lý hành chính.

Trước đó, hôm 23-2, thượng nghị sĩ Art Eggleton, cựu thị trưởng Toronto và cựu bộ trưởng trong nội các của chính quyền Đảng Tự do, đã trình một đề xuất yêu cầu Thượng viện Canada khuyến khích chính phủ liên bang lập một chương trình thí điểm để đánh giá chi phí và tác động của việc thực hiện chương trình thu nhập cơ bản toàn quốc.

Hồi đầu tháng 2, đa số nghị viên Vùng Niagara, Ontario, đã bỏ phiếu đồng ý một đề xuất kêu gọi chính quyền tỉnh bang và liên bang áp dụng GBI. Tháng trước, hội đồng thành phố Kingston thông qua một đề xuất tương tự. Cũng trong tháng Giêng, thủ hiến Phillipe Couillard của chính quyền Đảng Tự do đã bổ nhiệm một ủy ban nội các về việc lập chương trình GBI ở Quebec. Và hồi tháng 8 năm ngoái, 194 bác sĩ Canada ký thư ủng hộ GBI ở Ontario, nói rằng nó sẽ giảm tình trạng sức khỏe kém do nghèo.

Trao đổi với nhật báo The Globe and Mail, Bộ trưởng Gia đình, Trẻ em và Phát triển Xã hội Jean-Yves Duclos nói rằng ý tưởng này đáng được cân nhắc thành một chính sách nhà nước, sau khi chính phủ Đảng Tự do thực hiện các cải tổ trước mắt như đã hứa trong chiến dịch tranh cử. Một phần trách nhiệm của vị bộ trưởng này là kết hợp nhiều khoản phúc lợi của chính phủ liên bang dành cho các bậc cha mẹ thành một khoản duy nhất, gọi là Phúc lợi Trẻ em Canada, và tăng phúc lợi Bổ sung Thu nhập Bảo đảm dành cho người cao niên. Cả hai chương trình này cho thấy Canada hiện đã có một số dạng thu nhập cơ bản bảo đảm.

Thu nhập tối thiểu là gì?

Người vô gia cư ở Halifax. Photo courtesy iPolitic
Người vô gia cư ở Halifax. Photo courtesy iPolitic

Thử tưởng tượng chính phủ bắt đầu cấp 10 ngàn Gia kim mỗi năm cho mỗi công dân đến tuổi trưởng thành, hoặc áp dụng thuế suất thu nhập âm để những người có thu nhập thấp và những người thất nghiệp sẽ được hoàn thuế thay vì đóng thuế.

Nghe có vẻ như một chương trình tái phân phối thu nhập xã hội chủ nghĩa, điều mà cộng đồng doanh nghiệp và giới kinh tế học bảo thủ sẽ phê phán là một trò hề làm mất công ăn việc làm và chắc chắn sẽ tạo ra một quốc gia toàn những kẻ lười biếng, vô tích sự và không có khả năng cạnh tranh.

Nhưng ngày càng có nhiều nhà tư tưởng kinh tế học – mà không chỉ thuộc cánh tả – cho rằng hoàn toàn có thể ngược lại: đó có thể là ý tưởng chính sách tiêu biểu của thế kỷ 21. Tuy chưa hẳn là một liều thuốc màu nhiệm để giải quyết mọi vấn nạn xã hội, nó có thể xóa đói nghèo mức độ lớn, và tạo điều kiện phát triển một xã hội lành mạnh hơn và hiệu quả hơn.

Và nếu ý tưởng này chủ yếu được cánh tả ủng hộ, có một lý do chính mà nó cũng có thể được cánh hữu đồng ý: nó hứa hẹn giảm quy mô và sự ôm đồm của nhà nước.

Glen Hodgson, nhà kinh tế học thuộc tổ chức nghiên cứu Conference Board of Canada, đã viết một bài phân tích chính sách năm 2011 kêu gọi nghiên cứu về thu nhập tối thiểu, xem đó là cách thay thế các chương trình chi tiêu xã hội. Phúc lợi, bảo hiểm thất nghiệp, và nhiều loại miễn giảm thuế cho các bậc cha mẹ và các gia đình có thu nhập thấp đều có thể được thay thế bằng một chương trình cấp tiền duy nhất

Trong bài phân tích của mình, Hodgson cho rằng nếu được thiết kế đúng, một hệ thống phổ quát duy nhất để hỗ trợ người dân Canada có thu nhập thấp sẽ phá bỏ “bức tường phúc lợi” hiện đang khiến một số người lệ thuộc vào trợ cấp xã hội, và sẽ thực sự củng cố nền kinh tế nhờ tạo ra các động cơ khuyến khích làm việc mạnh hơn.

Hugh Segal, cựu thượng nghị sĩ và thành viên nội các trong chính phủ Đảng Bảo thủ Tiến bộ của thủ tướng Brian Mulroney, là một trong những nhân vật cao cấp nhất ở Canada ủng hộ thu nhập bảo đảm. Trả lời phỏng vấn Huffington Post Canada cách đây vài năm, ông đồng ý với nhiều luận điểm của Hodgson. “Chúng ta không muốn đối diện với thực tế là mạng lưới an sinh xã hội của chúng ta không đủ mạnh để kéo người dân ra khỏi đói nghèo nhưng lại đủ mạnh trói buộc người dân trong đó.”

Theo quan điểm của Segal, thu nhập tối thiểu sẽ giảm đáng kể sự can thiệp của nhà nước vào đời sống của công dân, và loại bỏ các khía cạnh “phán xét” của các chương trình xã hội như phúc lợi và bảo hiểm thất nghiệp – công chức nhà nước có quyền định đoạt ai đáng và không đáng được hưởng trợ cấp. Ông cho rằng áp dụng thu nhập tối thiểu sẽ chấm dứt tình trạng quản lý tủn mủn của các công chức cấp tỉnh bang, và đề cao phẩm giá của các công nhân có thu nhập thấp.

Segal nhắc rằng ở Canada đã có thu nhập bảo đảm – dưới hình thức An sinh Tuổi già (OAS) và Bổ sung Thu nhập Bảo đảm (GIS), tức là thu nhập tối thiểu dành cho người cao niên.

Ông nhận xét rằng khi Ontario đi đầu về việc bổ sung thu nhập cho người cao niên vào giữa thập niên 1970, điều đó gần như ngay lập tức đã giảm tỷ lệ nghèo ở người cao niên từ 30% xuống còn 3%. Ông nói: “Nếu chúng ta đã tin tưởng để người cao niên quản lý số tiền đó, thì tại sao chúng ta không tin tưởng những người trong độ tuổi 40 và 50.”

Segal đã cổ xúy cho ý tưởng này trong nhiều thập niên, Nhưng quan niệm này để trở nên phổ biến trong những năm gần đây và hiện nay là vấn đề đang được thực hiện ở các nước đang phát triển và là một phần trong cuộc tranh luận chính trị ở một số nước châu Âu.

Thực hiện ra sao?

Có 2 loại tổng quát về mô hình thu nhập bảo đảm: thu nhập cơ bản phổ quát (UBI), và thuế thu nhập âm (NIT). Hai mô hình này rất khác biệt nhau và có thể có những kết quả khác nhau, nhưng không may là trong tranh luận để thu nhập tối thiểu người ta thường dùng lẫn lộn hai khái niệm này.

Mô hình thuế thu nhập âm có một ngưỡng thu nhập mà nếu thu nhập thấp hơn mức đó thì áp dụng thuế suất âm – tức là nhà nước sẽ trả tiền cho dân chứ không phải dân đóng thuế cho nhà nước. Thu nhập càng thấp thì mức hoàn thuế càng nhiều.

Đây có lẽ là mô hình ít tốn kém hơn, nhưng nó có nhiều vấn đề về hành chính. Nếu bạn mất việc làm và thu nhập xuống thấp hơn ngưỡng thu nhập, nhà nước sẽ chẳng có phản ứng gì cho tới khi bạn khai thuế vào năm tới. Vậy thì phải làm sao? Không lẽ phải khai thuế thu nhập hàng tháng?

Một cách để loại trừ các vấn đề này áp dụng mô hình thu nhập tối thiểu còn lại: thu nhập cơ bản phổ quá. Trong mô hình UBI, mỗi người trưởng thành sẽ được chính phủ cấp tiền hàng tháng, bất kể mức thu nhập hay hoàn cảnh của họ. Điều đó có thể giải quyết các trở ngại hành chính của NIT, nhưng có thể gặp phải những phản đối quyết liệt hơn. Coi như ai cũng được cấp tiền, kể cả tỷ phú. Đối với người có thu nhập cao, số tiền này sẽ được bù trừ bởi mức thuế thu nhập cao hơn, nhưng chuyện “cấp tiền cho mọi người” là một kịch bản chính trị không phải ai cũng chấp nhận .

Tại sao ý tưởng này nay lại thời thượng?

Trong nhiều năm qua đã có nhiều thí nghiệm tác dụng thu nhập bảo đảm, chủ yếu ở các nước đang phát triển và do các tổ chức muốn thử nghiệm các ý tưởng mới về xóa đói giảm nghèo. Ở Mỹ cũng có một số thí nghiệm được chính quyền Nixon thực hiện trong thập niên 1970; Đó là các “thí nghiệm duy trì thu nhập” ở Colorado, Indiana, Iowa, New Jersey, North Carolina và Washington.

Vào cuối thập niên 1970, cư dân thị trấn Dauphin, Manitoba, tham gia vào một chương trình gọi là Mincome cấp thu nhập tối thiểu bảo đảm cho mọi người dân. Tuy không có báo cáo cuối cùng, chương trình này đã giúp 1.000 gia đình thoát khỏi nghèo đói trước khi chương trình bị bãi bỏ vào năm 1979. Hiện nay thành phố Utrecht, Hà Lan, đang tiến hành thử áp dụng GBI lấy cảm hứng từ thí nghiệm xưa kia ở Dauphin.

Mùa hè năm nay, Thụy Sỹ sẽ là nước đầu tiên trên thế giới tổ chức trưng cầu dân trí về thu nhập cơ bản phổ quát. Theo đề xuất ở Thụy Sĩ, mỗi người trưởng thành sẽ được cấp 30.000 franc Thụy Sĩ, tức khoảng 35.000 Gia kim, mỗi năm. Kế hoạch này hào phóng hơn nhiều so với phần lớn các đề xuất về thu nhập cơ bản.

Phần Lan cũng đang nghiên cứu một khoản bổ sung thu nhập 800 euro/tháng miễn thuế cho công dân. Chính phủ Phần Lan dành ra 20 triệu euro cho thí nghiệm được xem là chương trình thí điểm toàn diện và chặt chẽ về phương pháp nhất từ trước tới nay về thu nhập tối thiểu, với sự tham gia của một tỉ lệ rất nhỏ dân chúng nước này. Tổ hợp đảm trách nghiên cứu thực hiện thí nghiệm này đã trưng cầu dư luận và phát hiện 68% dân chúng Phần Lan ủng hộ GIB, với mức thu nhập cơ bản trung vị được đề nghị là 1.000 euro. (Con số 800 euro/tháng được cung cấp cho báo chí quốc tế chỉ mang tính minh họa chứ chưa phải nhất định.)

Tại sao bây giờ?

Một lập luận được đưa ra hiện nay có liên quan tới sự bùng nổ tự động hóa trong kỷ nguyên kỹ thuật số. Một cuộc nghiên cứu năm 2013 của Đại học Oxford ước tính rằng 47% công việc hiện nay có nguy cơ sẽ bị máy móc thay thế trong vòng 20 năm.

Về dài hạn, điều đó có thể không phải là vấn nạn. Hầu hết các nhà kinh tế học nhận định rằng trước đây nhân loại đã trải qua các quá trình tự động hóa làm mất việc làm tương tự (ví dụ sự phát minh dây chuyền sản xuất) và các việc làm mới luôn chiếm chỗ của chúng.

Nhưng trong ngắn hạn, nhân loại có thể gặp phải một vấn nạn lớn. Nếu các ngành công nghiệp mới và những hoạt động mới không kịp thay thế những việc làm biến mất, nhân loại có thể chứng kiến những xáo trộn và tình trạng nghèo đói tương tự như đã diễn ra vào những năm đầu của cuộc cách mạng công nghiệp, khi nhiều thợ thủ công lành nghề mất việc vì vị máy móc thay thế.

Trong một bài viết năm 2013, Paul Krugman, nhà kinh tế học đoạt giải Nobel và là nhà bình luận có tư tưởng tự do, ủng hộ áp dụng thu nhập tối thiểu để giảm nhẹ cú sốc do cuộc cách mạng tự động hóa gây ra – một cách để bảo đảm tầng lớp trung lưu không bị xóa sổ trong quá trình chuyển tiếp sang nền kinh tế mới này.

Krugman kết luận trong một nền kinh tế như vậy, “cách duy nhất để chúng ta có thể có cái giống như một xã hội trung lưu …. là bằng cách có một mạng lưới an toàn xã hội vững chắc, bảo đảm không chỉ y tế mà còn thu nhập tối thiểu.”

Với thu nhập tối thiểu, phải chăng có người sẽ ngừng làm việc?

Hình minh họa. PraxisPhotography
Hình minh họa. PraxisPhotography

Nhiều nhà tư tưởng (chủ yếu bảo thủ) đã lập luận rằng nếu thu nhập tối thiểu được áp dụng thì sẽ có ít người làm việc hơn vì một bộ phận dân chúng sẽ hài lòng với việc sống nhờ vào trợ cấp của Chính phủ và không chịu đi làm.

Trong một bài viết gần đây, doanh nhân Pascal-Emmanuel Gobry trích dẫn các thí nghiệm về thuế thu nhập âm ở Mỹ và Canada trong thập niên 1970, nêu các nghiên cứu cho thấy các chương trình đó quả thật đã giảm động cơ làm việc. Ông kết luận, nếu có hệ thống thu nhập bảo đảm, “ hàng triệu người có khả năng làm việc sẽ không chịu đi làm, chỉ dẫn tới tình trạng ăn không ngồi rồi có hại cho xã hội”.

Nhưng thực tế không trắng đen rõ rệt như vậy. Thứ nhất, những thí nghiệm trong thập niên 1970 chỉ xét tới thuế thu nhập âm, chứ không phải thu nhập cơ bản phổ quát. Thứ hai, nghiên cứu thấu đáo nhất về thí nghiệm tại Dauphin, Canada, trong thập niên 1970 kết luận rằng nó không làm giảm động cơ làm việc – ít nhất là theo cách nghĩ giới chỉ trích. Trong khi các nghiên cứu tại Mỹ được thiết kế kém hơn cho thấy thuế thu nhập âm có thể khiến người ta không đi làm, ở Dauphin chỉ có những người mẹ có con nhỏ và thanh niên dường như làm việc ít hơn. Nhưng chưa rõ làm việc ít hơn có phải là điều xấu hay không vì có thể là do họ nghỉ hộ sản, dành thời gian nhiều hơn cho con thơ, hoặc giới trẻ dành nhiều thời gian đi học và làm việc thiện nguyện. Cuối cùng, một số nhà nghiên cứu đã kết luận rằng sự giảm động cơ làm việc trong các thí nghiệm ở Mỹ thường bao gồm những người có việc làm nhưng giấu thu nhập để họ có thể được nhà nước trợ cấp nhiều hơn.

Các nghiên cứu gần đây cho thấy trong khi thuế thu nhập âm sẽ làm giảm phần nào động cơ làm việc hoặc ít nhất khiến người dân giấu thu nhập, mô hình thu nhập cơ bản không gặp những vấn đề này. Đó là kết luận của Ed Dolan, sáng lập viên Viện Kinh doanh và Kinh tế Mỹ ở Moscow.

Dolan cho rằng thực ra các chương trình xã hội hiện có như bảo hiểm thất nghiệp và phúc lợi xã hội làm giảm động cơ làm việc vì người được hưởng sẽ bị cắt phúc lợi khi hoàn cảnh của họ cải thiện. Nhưng với thu nhập cơ bản, ai cũng nhận được một mức như nhau bất kể hoàn cảnh ra sao, và không làm giảm thêm động cơ kiếm việc làm và kiếm tiền nhiều hơn.

Một thí nghiệm gần đây của Oxfam dường như khẳng định các tiên đoán của Dolan. Tổ chức viện trợ này cấp thu nhập cơ bản cho người dân tại 8 làng nông nghiệp ở Ấn Độ và so sánh kết quả với 12 làng  không được cấp thu nhập cơ bản.

Guy Standing, giáo sư Đại học London, viết rằng những làng được cấp thu nhập cơ bản có cải thiện về mức độ dinh dưỡng trẻ em, sức khỏe trẻ em và người lớn, mức độ đi học chuyên cần và thành tích học tập, vệ sinh, hoạt động kinh tế và thu nhập kiếm được, và vị thế kinh tế xã hội phụ nữ, người cao niên và người khuyết tật.

Điều lý thú là thu nhập cơ bản giúp cho người ta khởi nghiệp làm ăn. Standing kết luận: “Trái với tiên đoán của những người nghi ngờ (trong đó có Sonia Gandhi), thu nhập cơ bản dẫn tới nhiều hoạt động kinh tế và việc làm hơn.”

Tất nhiên một thí nghiệm tại các làng nông nghiệp ở một nước đang phát triển không thể cho biết liệu nó có tác dụng ra sao ở một nền kinh tế tân tiến. Chính vì thế với kinh tế học tiếp tục kêu gọi có nhiều thí nghiệm hơn và thu nhập bảo đảm. Thí nghiệm ở Dauphin cho nhiều thông tin hữu ích nhưng đã diễn ra cách đây mấy chục năm, nên một thí nghiệm đương đại ở Phần Lan vẫn có thể cung cấp những bằng chứng giá trị hơn về tác động của thu nhập cơ bản.

Chi phí ra sao?

Điều đó tùy thuộc vào loại chương trình và mức độ hào phóng của chương trình. Nếu áp dụng thuế thu nhập âm thì dễ bảo đảm trung hòa về ngân sách (tức là không phải tăng thuế) hơn khi áp dụng thu nhập cơ bản.

Theo một ước tính gần đây, chi phí để nâng tất cả mọi người ở Canada lên khỏi mức nghèo là 32 tỷ Gia kim. Nhà nước có thể ấn định thuế suất thu nhập âm ở mức để chương trình chỉ tốn kém chừng đó, và các chi phí giảm bớt do loại bỏ hoặc giảm bớt quy mô các chương trình xã hội có thể bù đắp chi phí đó.

Thực vậy, trong bài nghiên cứu năm 2011, Conference Board of Canada nhận định rằng thuế thu nhập âm có thể tiết kiệm ngân sách đáng kể, nhất là cho các tỉnh bang. Sở dĩ như vậy là do giảm gánh nặng đối với hệ thống y tế vì mọi người dân được bảo đảm mức sống cơ bản. Nạn đói nghèo và chi phí y tế có mối tương quan thống kê với nhau.

Conference Board of Canada cho rằng bởi vì nó sẽ giảm “bức tường phúc lợi” khiến người ta lệ thuộc vào trợ cấp của nhà nước, có nghĩa là sẽ có thêm nhiều người tham gia vào lực lượng lao động, nhờ đó sẽ tăng số thuế mà nhà nước thu được trong dài hạn. Theo cách nhìn này, thuế thu nhập âm sẽ không tăng chi phí cho nhà nước.

Nhưng nếu cấp thu nhập cơ bản cho tất cả mọi người thì có thể sẽ cần nguồn thu nhiều hơn của nhà nước cho dù các chương trình xã hội khác bị xóa bỏ.

Giả định một mức thu nhập cơ bản hàng năm $10.000 (khoảng 20% thu nhập trung bình) được cấp cho mỗi người trưởng thành trên 20 tuổi (27,7 triệu người Canada), tổng mức chi trả sẽ là 277 tỷ Gia kim. Một con số đáng sợ, thậm chí còn nhiều hơn 215 tỷ Gia kim mà chính quyền các cấp chi tiêu cho y tế, nhưng nếu ta trừ phần lớn chi phí của các khoản trợ cấp và phúc lợi tổng cộng $139 tỷ Gia kim của chính quyền các cấp dành cho người Canada hiện nay, coi như ta giảm một nửa chi phí của chương trình thu nhập cơ bản. Ngoài ra, nhà nước miễn thuế $10.000 cho tất cả mọi người (kể cả người có thu nhập cao), nên có thể bù đắp bằng thuế suất thu nhập cao hơn.

Hoặc, như Paul Krugman đề xuất, đặt gánh nặng thuế tăng thêm đó lên vai các doanh nghiệp. Theo ông, các doanh nghiệp sẽ chiếm tỷ lệ cao trong tổng thu nhập, nên họ có khả năng đóng thuế cao hơn.

Tác động đối với doanh nghiệp và thị trường lao động?

Có hai trường phái tư tưởng về khía cạnh này. Một trường phái cho rằng thu nhập bảo đảm sẽ giúp người ta ít lệ thuộc vào công việc của họ hơn, nên họ sẽ có vị thế tốt hơn khi điều đình lương bổng hoặc có thể chờ tới lúc kiếm được việc tốt hơn. Đó là tác động tích cực cho người lao động nhưng tiêu cực cho doanh nghiệp vì họ sẽ chịu chi phí lao động cao hơn. (Nó cũng có thể giúp cho người ta có nhiều cơ hội hơn để đi học hoặc học nghề mới, mà về dài hạn sẽ có ích cho nền kinh tế nhờ tạo ra một lực lượng lao động linh hoạt hơn và có khả năng thích ứng cao hơn.)

Nhưng trường phái thứ hai nghĩ rằng điều ngược lại sẽ xảy ra. Với thu nhập bảo đảm, những nơi trả lương thấp như Walmart hay McDonald’s sẽ chẳng bị áp lực phải trả lương cao hơn. Điều này sẽ có lợi cho doanh nghiệp nhờ tiết kiệm các khoản tăng lương, nhưng điều đó rốt cuộc lại bù trừ một số lợi ích cho người lao động thu nhập thấp.

Thu nhập tối thiểu chắc chắn sẽ giúp dàn trải đều thu nhập cho những người làm việc thời vụ, giúp một số người kiếm đủ tiền trang trải qua ngày bằng việc làm bán thời gian khi có những công việc đó. Nhưng điều đó cũng có thể khiến các doanh nghiệp dựa dẫm vào thu nhập tối thiểu, và sẵn sàng cho nhân viên nghỉ việc hơn.

Ai ủng hộ, ai phản đối?

Hiện nay, ý tưởng thu nhập bảo đảm không phải là của riêng cánh tả hay cánh hữu. Ở Mỹ, thuế thu nhập âm được Milton Friedman, ông tổ của kinh tế học bảo thủ hiện đại và là người chủ tương tự do cá nhân nổi tiếng, cổ xúy. Ở Canada, ý tưởng này được một số chính khách thuộc Đảng Bảo thủ Tiến bộ trong thời Robert Stanfield làm lãnh tụ trong những năm 1960.

Tại đại hội ở Montreal năm 2014, khi Đảng Tự do còn ở vị trí thứ ba trong Hạ viện, các đảng viên Tự do đã thông qua Nghị quyết Chính sách 100, hứa tạo ra “thu nhập cơ bản hàng năm” để giải quyết các vấn nạn trong mạng lưới an sinh xã hội, từ rủi ro về hưu bổng tới các phúc lợi cho người làm việc thời vụ, nhưng GIB không nằm trong cương lĩnh chính thức trong kỳ bầu cử liên bang vừa qua. Nhưng nay đã lên nắm chính phủ đa số, cùng với sự vận động từ nhiều giới, Đảng Tự do cảm thấy GBI trở nên đáng quan tâm hơn.

Tuy chủ trương thân doanh nghiệp, tổ chức nghiên cứu Conference Board of Canada cũng đã ủng hộ ít nhất là nghiên cứu ý tưởng thu nhập bảo đảm. Lãnh tụ Đảng Xanh Elizabeth May đã ủng hộ ý tưởng GIB trong quá khứ, và đã đưa nó vào cương lĩnh của đảng trong kỳ tổng tuyển cử gần đây nhất. Một số chính khách có chủ trưởng bảo thủ về tài khóa cũng ủng hộ dùng GIB để thay thế hoặc loại bỏ các chương trình xã hội hiện có.

Nhưng những mối quan ngại về các chi phí khả dĩ của thu nhập tối thiểu, dù có cơ sở hay không, cộng với các lập luận đạo đức chống lại việc “cấp tiền miễn phí cho tất cả mọi người”, có thể là cốt lõi của quan điểm phản đối ý tưởng này.

Có thể gặp rào cản gì?

Việc áp dụng thu nhập bảo đảm sẽ gây chuyển biến lớn lao cho xã hội và nền kinh tế trong thế kỷ 21 không kém gì việc áp dụng lương tối thiểu và an sinh tuổi già trong thế kỷ 20, và có thể còn lớn hơn nữa. Đó là rào cản lớn nhất – tức là nỗi sợ chung về việc thực hiện một thay đổi tận gốc cho xã hội. Nhưng ngoài ra còn có những rào cản cụ thể.

Ví dụ cộng đồng doanh nghiệp không tham gia vào vấn đề này. Hugh Segal nhận xét rằng những chuyển biến căn bản trước đây về chính sách như vấn đề này cần phải có cộng đồng doanh nghiệp chủ động tham gia trước khi các thay đổi có thể trở thành hiện thực.

Cộng đồng doanh nghiệp có thể tham gia vào vấn đề này theo cách tiêu cực. Nếu đề xuất thu nhập bảo đảm sẽ khiến thuế doanh nghiệp cao hơn, và nếu giới lãnh đạo doanh nghiệp tin rằng kế hoạch này sẽ làm tăng chi phí lao động, họ có thể phản đối bằng những lý do đó.

Nhưng chắc chắn cũng sẽ có sự phản đối từ phía bên kia. Các nghiệp đoàn lao động đại diện cho giới công chức quản lý thực hiện các chương trình xã hội hiện tại có thể thấy thu nhập tối thiểu là mối đe dọa sinh tồn. Nhiều công việc – nếu không nói là phải là phần lớn – liên quan tới các chương trình này sẽ trở thành dư thừa.

Để thực hiện được một chương trình thu nhập tối thiểu cần phải có sự liên minh giữa địa phương, tỉnh bang và liên bang; chính điều này cũng là một rào cản theo kinh nghiệm xưa nay. Theo một báo cáo năm 2015 của Viện Fraser, ý tưởng thu nhập cơ bản khó khả thi ở Canada vì một trong những trở ngại lớn nhất là khó phối hợp đồng bộ từ các cấp chính quyền khác nhau.

Có thể bạn sẽ thích

Bình luận

Loading...