Mua nhà condo hay thuê apartment thì có lợi hơn?

127

Trích đoạn cuốn sách “Cẩm nang nhà condo cho người Canada – Mọi điều bạn cần biết trước và sau khi mua một căn condo” của Dan S. Barnabic đăng trên The Globe and Mail. 

Huấn Trung dịch*

Đầu tư hay thuê – so theo tiền vay gốc

Đối với nhiều người, sở hữu một bất động sản có lợi hơn là đi thuê. Theo thời gian, bất động sản lên giá và vốn chủ sở hữu tăng dần khi trả tiền mua góp hàng tháng, và số tiền còn nợ ngân hàng giảm dần. Ngươc lại, người thuê nhà trả một khoản nhất định mỗi tháng cho sở hữu chủ để được sử dụng căn hộ làm chổ ở.  Thay vì tạo thêm vốn chủ sở hữu (equity) cho chính mình trong bất động sản, họ giúp tạo thêm vốn chủ sở hữu cho chủ tòa nhà.

Nhưng mặt khác người thuê nhà không phải lo gì về tiền trả góp, bảo trì, thuế má, lệ phí và phân lời lên xuống. Quẳng gánh lo đi và tận hưởng mỗi ngày sống trong căn hộ thuê bằng cách mỗi tháng trả một mức phí cố định có khi lợi hơn là phải tự cột mình vào những món nợ oằn lưng đầy bất trắc.

Tất cả nằm ở vấn đề vốn gốc và khả năng chi trả. Trong khi phần lớn người ta mua nhà đất để gầy vốn chủ sở hữu hay giữ của, còn lại người ta chọn cách tích luỹ tài sản bằng cách để dành tiền hay bỏ vốn vào những cơ hội làm ăn khác không cứ là kinh doanh bất động sản.

Những ai nghĩ rằng theo thời gian bất động sản có giá trị hơn chứng khoán hãy xem xét chuyện này: 100 ngàn dollards bỏ ra mua cổ phiếu Coca-Cola vào năm 1990 đã thành 1 triệu dollards vào năm 2000. Tất nhiên đầu tiên phải là một nhà tiên tri cực kỳ uy tín mới thuyết phục được một nhà đầu tư bỏ tất tần tật ngần ấy tiền vào chỉ mỗi một loại chứng khoán.

Đó có thể là một ví dụ cực đoan, và tôi không hề cho rằng đầu tư vào chứng khoán thì luôn luôn hay hơn vào bất động sản.  Thật sự vấn đề là mọi đầu tư đều có rủi ro.

Chương sách này kể lại câu chuyện của ông Jones và ông Smith như một nghiên cứu tình huống (case study) về việc đi thuê so sánh với việc mua nhà.

Ông Jones sở hữu một căn hộ chúng cư. Ông Smith thuê một căn hộ có cùng diện tích trong cùng tòa nhà chúng cư đó.  Sự so sánh dựa trên một khoảng thời gian năm năm và có thể áp dụng tương tự cho những người ít vốn hay không có vốn chủ sở hữu lẫn những người có vốn chủ sở hữu lớn trong căn hộ của họ. Trong ví dụ của chúng tôi, cả ông Jones và ông Smith đều bắt đầu với $67000 trong trương mục tiết kiệm và lãnh lương bằng nhau, về tài chánh vậy là họ ngang nhau.

Ông Jones quyết định đầu tư món tiền tiết kiệm của mình vào mua một căn hộ chúng cư.

Ông Smith quyết định đầu tư món tiền tiết kiệm của mình vào các trái phiếu đô thị và dùng tiền lời từ khoản đầu tư này để trả tiền thuê nhà. Các trái phiếu đô thị mang lại lợi tức 5 phần trăm một năm và đáo hạn trong năm năm. Để thuận tiên cho nghiên cứu tình huống này, mặc dầu biết rằng ông Smith chỉ được thâu lại tiền của mình khi đáo hạn năm năm, chúng tôi coi như món tiền này tính bù vào tiền thuê nhà phải trả trong kỳ hạn đó.

Ông Jones mua căn hộ chúng cư của mình với giá $250000 với 25 phần trăm trả trước là $62500. Thêm vào đó, ông phải chịu các chi phí kèm theo, như lệ phí pháp lý, thủ tục vay mua nhà, thuế chuyển nhượng đất, và những chi tiêu khác, tính hết vào khoảng $4500. Do đó, ông phải bỏ tiền túi ra cả thảy là $67000, đúng bằng số tiền có trong trương mục tiết kiệm của ông trước khi mua căn hộ.

Ông Jones được một hợp đồng năm năm cho khoản vay mua nhà là $187500 trả dần trong 25 năm với phân lời 5.5 phần trăm mỗi năm,  tính ra mỗi tháng phải trả $1132 bao gồm vốn và lời gộp lại. Thêm vào đó, hàng tháng ông Jones phải chịu $350 phí bảo trì cộng với thuế bất động động sản $150. Cả thảy mỗi tháng ông trả $1632. Sau năm năm (60 tháng), tổng cọng số tiền ông phải trả là $97920. Nếu ta cộng vào đó tiền mua nhà trả trước và chi phí kèm theo là $67000, ông Jones bỏ ra số tiền tổng cọng là $164920.

Để so sánh, bằng cách hàng tháng trả tiền thuê nhà cố định $1400, ông Smith tiêu hết $84000 trong cùng thời gian năm năm (60 tháng) cho tiền thuê nhà. Do đã bỏ tiền mua trái phiếu đô thị hết $67000, sau năm năm ông đã bỏ ra số tiền tổng cọng là $151000.

Tính sau năm năm, ông Smith trả ít hơn ông Joes $13920. Sự chênh lệch này là đáng kể, bởi vì, bất kể phần vốn chủ sở hữu ông Jones đã có được sau năm năm, số tiền trên thực tế ông bỏ ra là nhiều hơn. Theo góc nhìn này, ông Smith tỏ ra có lợi hơn ông Jones.

Ta hãy xem xét kỹ hơn trường hợp của ông Jones, giả định trong những điều kiện thị trường thuận lợi và bất lợi.

Hệ quả khi điều kiện thị trường có lợi cho ông Jones

Giả định rằng trong năm năm đầu, không có thay đổi bất lợi nào ở tòa nhà chúng cư của ông Jones – nói cách khác, căn hộ của ông không phải chịu lệ phí đặc biệt nào – còn tiền bảo trì, phân lời cho vay mua nhà, và thuế bất động sản vẫn cứ đều đều như vậy không thay đổi. Cũng giả định rằng điều kiện thị trường là thuận lợi trong những năm đó – giá trị bất động sản theo xu hướng cứ mỗi năm mỗi tăng tăng như xưa nay.

Sau năm năm đầu tiên, bằng cách trả tiền vay mua nhà đều đặn, tiền vay gốc của ông Jones giảm đi $20250. Tiền gốc trong khoản vay mua nhà sau năm năm xuống còn $167250. Khoản tiền trả trước $62500 và tiền trả vốn gốc $20250 giờ đây thể hiện vốn chủ sở hữu mà ông có trong căn hộ chúng cư của mình, cụ thể là $82750.

Chúng ta có thể kể thêm vào đó giá trị bất động sản tăng thêm theo xu hướng mỗi năm là 2 phần trăm, sau năm năm thành 10 phần trăm, hay $25000. Vậy giá trị căn hộ chúng cư của ông Jones sau năm năm đã lên thành $275000, trong đó ông có phần vốn chủ sở hữu hiển nhiên cộng hết là $107750, hay gần 39 phần trăm.

Dưới những điều kiện thị trường thuận lợi, khoản chênh lệch giữa tiền phải bỏ ra của ông Jones nhiều hơn so với ông Smith ($13920) đã được trả bù lại hết. Phí tổn kèm theo việc mua căn hộ là $4500 cũng vậy.

Nếu ông Jones bán đi căn hộ của mình sau năm năm, ông sẽ lời được $25000, qua chênh lệch giá mua gốc $250000 với giá tăng thêm $275000, khiến ông có lợi hơn ông Smith, người mà chúng ta sẽ thấy chỉ vừa đủ khả năng trang trải tiền thuê nhà trong cả năm năm từ tiền đầu tư của mình.

Trên thực tế, khi hết năm năm đầu tiên, vốn chủ sở hữu của ông Jones có thể còn tăng hơn nữa nếu ông được vay mua nhà với phân lời thấp, hay thời giá căn hộ của ông tăng với tỷ lệ lớn hơn do mức cầu tăng mạnh so với bình thường.

Trong năm năm tiếp theo, triển vọng xem ra còn tốt hơn cho ông Jones vì tiền mua nhà trả từ đầu và các chi phí đi kèm không phải là các khoản chi lặp lại. Toàn bộ số tiền ông phải bỏ ra sẽ được hạ xuống còn $97920, thể hiện các chi tiêu định kỳ như trả góp tiền vay mua nhà, phí bảo trì và thuế bất động sản.

Nếu như điều kiện thị trường vẫn thuận lợi, ông sẽ tích lũy được vốn chủ sở hữu lớn hơn nhờ trả nhanh hơn khoản nợ gốc tiền mua nhà và thời giá căn hộ vẫn theo xu hướng tăng lên theo thường lệ.

Hệ quả khi điều kiện thị trường bất lợi cho ông Jones

Tuy nhiên, trong trường hợp xảy ra điều kiện thị trường bất lợi, căn hộ chúng cư của ông Jones có thể bị sụt giá.

Bất động sản là một ngành kinh doanh không ổn định. Những biến động thị trường như những cơn sốt  hay bể bong bóng địa ốc rồi sẽ diễn ra, mặc dầu khó mà dự đón được chúng tới lúc nào và kéo dài trong bao lâu.

Thay vì thời giá theo xu hướng tăng lên như trước đây , trong năm năm mà ông Jones sở hữu căn hộ, thị trường có thể trải qua đợt trì trệ và chịu hậu quả từ đó.

Trong trường hợp như vậy, bất động sản bị mất giá, đôi khi khá nhanh. Việc mất giá có thể khá trầm trọng, như đã chứng kiến ở nhiều đô thị Mỹ từ năm 2006 trở đi, khi giá bất động sản, đặc biệt là chúng cư, giảm đến 50 phần trăm.

Nếu ông Jones lâm vào tình cảnh bất lợi như vậy, ông có thể bị mất khoản trả trước. Hơn thế nữa, ông sẽ không làm tích lũy thêm vốn chủ sở hữu theo thường lệ.  Trên thực tế ông có thể bị thiệt hại đến hàng ngàn dollards.

Công bằng mà nói thì việc ông Jones có bảo tồn được tài sản của mình nằm trong giá trị căn hộ tùy thuộc vào một ít biến số: tình trạng nền kinh tế, xu hướng thị trường, phân lời cho vay mua nhà, triển vọng công ăn việc làm của ông, và chất lượng quản lý và điều hành tòa nhà chúng cư, cùng với sự chọn thời điểm và thời gian sở hữu tính tới các xu hướng thị trường.

Nếu thị trường sụt giá 15 phần trăm sau năm năm từ khi ông Jones mua căn hộ chúng cư, giá nó sẽ giảm đi $37500 còn $212500. Do đó vốn chủ sở hữu biểu kiến của ông không thể nhiều hơn $212500 trừ đi nợ gốc còn phải trả $167250, tức là $42250. Và điều này bất kể thực tế là ông đã trả trước $67000 và trả tiếp nợ gốc được $20250.

Ở mức sụt giá đó, món đầu tư ban đầu $67000 của ông Jones cộng với  $20250 ông đã trả nợ gốc trong năm năm bị hao mòn đáng kể  từ tổng số $87250, giờ chỉ còn $45250 sau năm năm.

Để so sánh, tiền đầu tư khởi thủy của ông Smith tăng giá đúng bằng như khi có điều kiện thị trường thuận lợi. Mặc dầu tiền đầu tư khởi thủy và phần tăng thêm sau năm năm đã được xài hết trơn vào tiền thuê nhà, ông vẫn ở và thụ hưởng căn hộ cho thuê có giá trị tương đương và trả ít hơn $13920 vào việc việc thuê nhà trong suốt năm năm.

Hệ quả khi điều kiện thị trường bất lợi cho ông Smith

Nếu như thị trường bất động sản và nền kinh tế tệ đi, ông Smith có thể gặp một hoàn cảnh thú vị. Khi đó có nhiều căn hộ chúng cư trống, giúp ông Smith cơ hội thuê được cũng một căn hộ giống như vậy với giá thấp hơn, độ chừng $1200 một tháng. Lạm phát đẩy phân lời lên, làm cho tiền đầu tư của ông mang lại lợi tức cao hơn. Trong kịch bản này, có khả năng rốt cuộc ông lại có thặng dư kha khá sau năm năm, hơn là bị thâm hụt một khoảng rất nhỏ.

Điều kiện thị trường bất lợi cho ông Jones, với tư cách một sở hữu chủ, có thể lại làm lợi cho ông Smith, với tư cách một người thuê nhà.

Ai làm ăn tốt hơn sau năm năm?

Tất cả là chuyện xác định thời điểm. Nếu thị trường diễn ra việc tăng giá một cách khác thường nhờ có mức cầu cao và phân lời thấp, ông Jones cuối cùng sẽ lời hơn ông Smith nhiều.  Giá cả chung có thể tăng lên tới 30 phần trăm, như đã diễn ra từ  năm 2000 đến 2006.

Bản phân tích tài chánh trong điều kiện thị trường có lợi

Ông JonesÔng Smith
Giá mua căn hộ $250000$250000Giá tương đương căn hộ thuê$250000
25% trả trước$62500Tiền tiết kiệm dùng đầu tư muatrái phiếu đô thị$67000
Chi phí kèm theo$4500
Đầu tư khởi thủy$67000Đầu tư khởi thủy$67000
Chi phí định kỳ
Trả nợ vay mua nhà hàng tháng cả vốn và lời, phân lời 5.5%/năm$1132
Phí bảo trí hàng tháng$350
Thuế bất động sản hàng tháng$150Tiền thuê nhà hàng tháng$1400
Cộng dồn chi phí mỗi tháng$1632Cộng dồn chi phí mỗi tháng$1400
Tổng cộng chi phí định kỳ trong5 năm$97920Tổng cộng tiền thuê nhà trong5 năm$84000
Tổng cộng tiền phải chi ra trong 5 năm
Đầu tư khởi thủy cộng với chi phí định kỳ$164920Tiền thuê nhà cộng với tiền mua trái phiếu$151000
Tăng vốn chủ sở hữuTiền lời đầu tư
Trả phần gốc nợ tiền vay mua nhà$20250Lợi tức trái phiếu 5%$16750
Phần giá thị trường tăng thêm 2% mỗi năm tính trong 5 năm$25000Hoàn trả tiền mua trái phiếu$67000
Cộng dồn$45250Tiền thu được sau 5 năm$83750
Thời giá căn hộ sau 5 năm$275000Tiền thuê nhà trong 5 năm$84000
Tiền lời nếu bán lại căn hộ sau khi ở 5 năm$25000Tiền thâm hụt sau 5 năm$250
Tiền nợ /Vốn chủ sở hữu sau 5 năm
Tiền nợ vay mua nhà còn lại$167250Tiền nợ$0
Vốn chủ sở hữu biểu kiến trong căn hộ$107750Tiền còn lại từ đầu tư khởi thủy$0

Nhưng nếu họ dọn vào căn hộ của mình vào năm 1988 thì sao? Trong năm năm tiếp theo, ông Jones có khả năng sẽ mất khoảng 30 phần trăm giá trị căn hộ của ông do điều kiện thị trường bất lợi làm giảm giá. Việc này làm mất hết vốn chủ sở hữu của ông. Chuyện tương tự cũng diễn ra trong khoảng thời gian năm năm bắt đầu từ 2006, khi bất động sản rớt giá có khi đến 50 phần trăm ở nhiều thành phố Mỹ.

Bản phân tích tài chánh trong điều kiện thị trường bất lợi

Ông JonesÔng Smith
Giá mua căn hộ $250000$250000Giá tương đương căn hộ thuê$250000
25% trả trước$62500Tiền tiết kiệm dùng đầu tư muatrái phiếu đô thị$67000
Chi phí kèm theo$4500
Đầu tư khởi thủy$67000Đầu tư khởi thủy$67000
Chi phí định kỳ
Trả nợ vay mua nhà hàng tháng cả vốn và lời, phân lời 5.5%/năm$1132
Phí bảo trí hàng tháng$350
Thuế bất động sản hàng tháng$150Tiền thuê nhà hàng tháng$1400
Cộng dồn chi phí mỗi tháng$1632Cộng dồn chi phí mỗi tháng$1400
Tổng cộng chi phí định kỳ trong5 năm$97920Tổng cộng tiền thuê nhà trong5 năm$84000
Tổng cộng tiền phải chi ra trong 5 năm
Đầu tư khởi thủy cộng với chi phí định kỳ$164920Tiền thuê nhà cộng với tiền mua trái phiếu$151000
Giảm vốn chủ sở hữuTiền lời đầu tư
Giá khởi thủy của căn hộ$250000Lợi tức trái phiếu 5%$16750
Phần giá thị trường giảm – 15% sau 5 năm$37500Hoàn trả tiền mua trái phiếu$67000
Thời giá căn hộ sau 5 năm$212500Tiền thu được sau 5 năm$83750
Tổng cộng tiền trả nợ gốc$87250Tiền thuê nhà trong 5 năm$84000
Tiền lỗ nếu bán nhà sau 5 năm$49750Tiền thâm hụt sau 5 năm$250
Tiền nợ /Vốn chủ sở hữu sau 5 năm
Tiền nợ tiền vay mua nhà còn lại$167250Tiền nợ$0
Vốn chủ sở hữu biểu kiến trong căn hộ$42250Tiền còn lại từ đầu tư khởi thủy$0

Như bạn thấy qua ví dụ trên, vốn chủ sở hữu về ngắn hạn không phải luôn luôn dựa trên tiền trả phần nợ gốc khoản vay mua nhà. Vốn chủ sở hữu phụ thuộc trực tiếp và giá trị của căn nhà, vốn chịu ảnh hưởng lớn từ xu hướng thị trường. Đầu tư vào bất động sản với mục đích ngắn hạn để tạo vốn sở hữu về bản chất là đánh cược với tình hình kinh tế, phân lời cho vay và điều kiện thị trường.

Vào ngày 11/5/2011, bản web của tờ New York Times đăng một bản phân tích rất hay để so lợi hại giữa mua nhà với thuê nhà. Theo tính toán của tờ báo, đối với người nào không tính ở quá một chỗ trong hơn bốn tới năm năm thì thuê nhà tỏ ra lợi hơn, còn người quyết định ở lâu hơn thì mua nhà có lợi hơn.

Đầu tư hay thuê – về ngắn hạn

Xu hướng thị trường bất động sản chịu ảnh hưởng không chỉ của mức thất nghiệp và phân lời cho vay, mà còn bởi mức cầu, giá vật liệu xây dựng, tỷ lệ lạm phát, và nhiều yếu khác. Đó là những mối liên hệ thị trường phức tạp. Ngay cả các chuyên viên phân tích tài chánh lão luyện nhất cũng không thể đưa ra câu trả lời chính xác khi phải dự báo về xu hướng của thị trường.

Trong một khoảng thời gian lâu dài, chiều hướng rõ ràng là có lợi cho chủ sở hữu nhà, bất kể tình trạng kinh tế và các chu kỳ dao động của thị trường. Chủ các bất động sản tích lũy vốn chủ sở hữu khi nợ gốc giảm dần và cuối cùng được trả dứt.

Sau khoảng bảy năm, tiền trả nợ gốc mua nhà trở thành trội hơn và, tùy thuộc thời hạn trả góp, nợ gốc từ đó về sau sẽ giảm đi nhanh hơn.

Tùy thuộc thời hạn trả góp, nếu người mua cứ ở trong 15, 20, 25, thậm chí 35 năm, họ sẽ đạt được  mục đích ở trong ngôi nhà mình sở hữu trong khi đồng thời giảm nợ mua nhà và cuối cùng trả dứt nợ.

Trong lịch sử, bất động sản từng tăng giá trong khoảng 1.5 đến 4 phần trăm một năm trừ phi có sự điều chỉnh của thị trường theo chu kỳ. Lương bổng của người tiêu dùng đáng lẻ là tăng theo, nhưng không may điều này lại không xảy ra. Liệu lương bổng có tăng kịp với chiều hướng chung giá cả bất động sản lạm phát? Nhìn lại từ xưa đến nay thì bạn không nên lạc quan.

Khi đó người mua nên dựa vào lương tri khi mua nhà, dù vì mục đích đầu tư hay để ở. Họ phải thuận theo thị trường và tình hình kinh tế. Thời điểm thích hợp và có lợi để mua nhà là trong khoảng thời gian gọi là thị trường thuộc người mua, khi đó nhiều bất động sản, bao gồm chúng cư, được rao bán với giá rẻ hơn. Mua vào khi thị trường đang cao và “để gió cuốn đi, để nước cuốn đi”, hy vọng giá cứ thế mà tăng, có lẻ không phải là ý hay. Bạn không thể nào dự báo thật chắc chắn khi nào thị trường sựng lại và có cả khả năng rớt giá.

Dư thừa đầu cung là một trong những yếu tố quan trọng nhất mà bạn phải xem chừng khi mua vào bất kỳ món bất động sản nào. Một thị trường thừa cung là thị trường thuộc người mua chi phối. Một thị trường thiếu hụt đầu cung là thị trường thuộc người bán chi phối.

Trong ví dụ của ông Jones và ông Smith, ông Smith không phải mất ngủ vì lo lắng gì phân lời vay mua nhà hay tình hình thị trường. Nếu ông quyết định thuê nhà nữa, ông xem như để dành được $67000 nữa trong năm năm trong khi kiên nhẫn chờ tới lúc thị trường thuộc người mua chi phối để mua căn hộ hay tiếp tục ở lại đó, khoan khoái biết rằng tiền thuê nhà trong tương lai đã được ấn định và chẳng phải lo nữa.

Như đã nói, việc so sánh giữa ông Jones và ông Smith áp dụng như nhau cho những người trả ít hoặc không có down payment, và người trả khoản down payment đáng kể.  Điều khác biệt duy nhất là những người trước có thể mất căn hộ của họ hay mắc thêm nợ nần nếu thị trường quay lưng lại với họ, trong khi những người sau có thể mất một phần thậm chí mất sạch vốn chủ sở hữu nhưng vẫn có vị thế tốt hơn để trụ lại căn hộ qua cơn sóng gió.

Quan trọng là lưu ý rằng việc thuê nhà không phải là bất lợi hơn đi mua, đặc biệt trong những thời kỳ có cơn sốt bất động sản đẩy giá lên cao quá tầm tay người muốn mua nhà.  Chọn đầu tư hay thuê nhà loại căn hộ chúng cư nên là một quyết định của tự mỗi người dựa vào việc hiểu biết tường tận các yếu tố, thông tin xác thực, và sự nhận biết rõ ràng các ưu tiên của người đó vào thời điểm định mua.

Bạn nên có khả năng quyết định đúng đắn và hợp lý về việc mua hay thuê nhà, bằng cách tìm hiểu về chi phí bảo trì, thuế bất động sản, phân lời đang thịnh hành, và các điều kiện thị trường.

Apartement so với Condo

Cuối cùng nhưng không kém quan trọng, so sanh giữa nhà chúng cư loại apartment (người ở thuê căn hộ) với loại condo (người ở mua căn hộ).

Chủ các tòa nhà apartment thường là những chuyên viên bất động sản lành nghề. Dù là một tư nhân hay là một công ty, trong phần lớn trường hợp họ đã sở hữu và điều hành tòa nhà trong nhiều năm. Nhiều công ty chủ tòa nhà apatment ủy thác lại việc diều hành cho một ban quản lý thuộc nội bộ hay thuê ngoài.  Họ giám sát kỹ càng hoạt động của ban quản lý để bảo đảm rằng chi phí bảo trì và sửa chữa nằm trong ngân sách được dự trù.

Chủ tòa nhà có thể chỉ cần chấm dứt hợp đồng với ban quản lý nếu họ không làm việc một cách lương thiện, có trách nhiệm, và chuyên nghiệp.

Những tòa nhà apartment được quản lý tốt ít khi chi tiêu quá 55 phần trăm tiền cho thuê các căn hộ mỗi năm. Các chi phí này bao gồm tiền bảo trì, sửa chữa, thay thế định kỳ, lương người coi sóc tòa nhà, chi phí quản lý, các chi phí nghiệp vụ (như pháp lý và kế toán), và thuế bất động sản.

Đối với những sửa chữa lớn tốn tiền vượt quá khoản dự trữ trong ngân sách thì sao? Chủ tòa nhà apartment cỏ thể đi vay trả góp cộng thêm vào ngân khoản đang có để trang trải các chi phí đó.  Hoặc là, nếu họ kẹt tiền hay không muốn chi tiêu vào mấy việc đó, họ có thể bán đi tòa nhà trong bất kỳ tình trạng nào.  Ngược lại với chủ tòa nhà condo, chủ các tòa nhà apartment có thể tư họ định đoạt số phận toà nhà.

Theo truyền thống, trung bình giá tăng thêm khi bán một tòa nhà apartment chia ra trên một căn hộ là vào khoảng $5000 đến $20000. Nhưng nếu tòa nhà được tân trang và chuyển thành tòa nhà condo thì sao? Mỗi căn hộ condo có thể được bán cao hơn hàng trăm nghìn dollards. Điều đó giải thích vì sao nhiều chủ sở hữu tòa nhà apartment chuyển chúng thành nhà condo. Thường thì họ xin được giấy phép chuyển đổi mà chỉ thực hiện một ít công việc chỉnh trang. Điều không may là việc chuyển đổi hàng loạt như vậy là nguyên nhân chánh dẫn tới việc khan hiếm căn hộ cho thuê với giá phải chăng.

Ai là người thắng ? Chủ các tòa nhà chuyển đổi thành condo. Giờ đây hết phải lo lắng gì về chuyện bảo trì tòa nhà.  Trách nhiệm đó đã đẩy cho người mua các căn hộ gánh, những người này cũng trở thành sở hữu chủ của toàn bộ bất động sản, bao gồm đất và nhà, thường được kể gộp chung là khu chúng cư (condominium complex).

*   Người dịch thấy có một vài kết quả tính toán không khớp nhau, hoặc không thấy tác giả diễn giải cách tính toán, tuy nhiên vẫn giữ theo đúng bản gốc tiếng Anh. Độc giả vui lòng tự xem xét các số liệu. 

Có thể bạn sẽ thích

Bình luận

Loading...