Tuần Báo Thời Mới
Tuần báo Thời Mới phát hành tại Ontario, Canada.
TNT Entertainment

Các Chúa Tể Thụy Điển Trong Cuộc Chiến Trên Mạng

49

Vào ngày 24 tháng 4 năm 2013, chỉ vài tuần trước khi Edward Snowden tiết lộ về hoạt động do thám đại trà của Cơ quan An ninh Quốc gia Mỹ (NSA), tướng Keith B. Alexander, lúc đó là giám đốc NSA, đón tiếp một nhóm quan chức tình báo Thụy Điển tới dự một cuộc họp kín ba ngày tại đại bản doanh NSA ở Fort Meade, Maryland. Trong phái đoàn này có Ing var Akesson, vị giám đốc lâu năm của Tổ chức Phát thanh Quốc phòng của Thụy Điển (gọi là FRA, viết tắt của Forsvarets radioanstalt), một cơ quan tình báo ít được biết đến của chính phủ Thụy Điển, và năm quan chức cao cấp dưới trướng Akesson. Một trong những mục tiêu của cuộc họp là thảo luận tầm quan trọng ngày càng tăng của Thụy Điển đối với NSA.

Theo một luật năm 2008, FRA đã được chính phủ Thụy Điển trao nhiều quyền hạn rộng lớn để thu thập toàn bộ những thông tin liên lạc đi qua các mạng lưới cáp quang vào và ra khỏi Thụy Điển—bao gồm e- mail, tin nhắn, và các cuộc điện thoại. Điều này rất được NSA quan tâm, nhất là vì một tỷ lệ lớn những thông tin liên lạc Nga đi qua đường Thụy Điển. Năm 2011, Thụy Điển bắt đầu chia sẻ dữ liệu do thám của mình với NSA, mà—theo mô tả của các quan chức NSA vào lúc diễn ra cuộc họp đó—bao gồm một “tuyển tập độc nhất vô nhị các dữ liệu thông tin liên lạc” về các đối tượng Nga có ưu tiên cao như giới lãnh đạo, chính trị nội bộ, và năng lượng”.

Nhận thấy cơ quan tình báo Thụy Điển này có những năng lực kỹ thuật khác thường và nổi tiếng về tính bí mật, các quan chức NSA cũng xem FRA là một tổ chức hợp tác lý tưởng trong dự án của mình về hacking và chiến tranh trên mạng, gọi là Quantum. Một trong những chương trình Quantum là một chiến dịch tham vọng có tên WINTER LIGHT (Ánh sáng mùa đông), với mục đích bí mật xâm nhập vào các máy tính và mạng máy tính nước ngoài có giá trị cao để thu thập không chỉ dữ liệu thông tin liên lạc mà còn bất cứ thông tin gì lưu trữ trên các đĩa cứng hoặc các máy chủ của các mạng đó. Các mục tiêu khả dĩ có thể là các quản trị viên của những mạng lưới máy tính nước ngoài, các bộ trong chính phủ, các công ty dầu khí, quốc phòng, và những công ty lớn khác, cũng như các nhóm bị tình nghi khủng bố và những các nhân được định danh khác. Các chiến dịch Quantum tương tự đã nhắm tới đại bản doanh OPEC ở Vienna, cũng như Belgacom, một công ty viễn thông Bỉ có những khách hàng như Ủy ban Châu Âu và Nghị viện Châu Âu.

ThuyDien_Map
Sơ đồ cáp điện tại Bắc Âu.

Theo các tài liệu của NSA, chiến dịch WINTER LIGHT dùng một chiến lược tấn công phức tạp để bí mật gài một chương trình phần mềm độc hại (malware) vào máy tính hoặc mạng bị nhắm tới. Phần mềm độc hại của NSA sau đó sẽ chuyển hướng bất cứ tín hiệu nào giữa những máy tính đó và mạng Internet thông qua các máy chủ do thám tốc độ cao “bất chính”, gọi là các máy chủ “FoxAcid”, cho phép NSA bí mật truy cập gần như bất cứ dữ liệu cá nhân nào của người sử dụng—và thậm chí can thiệp chỉnh sửa dữ liệu đi từ người sử dụng này qua người sử dụng khác. Cả các hoạt động do thám lẫn tấn công mạng đều có tác động sâu rộng. Tạp chí Wired đã mô tả cách cuộc tấn công vào công ty viễn thông Bỉ đã có thể xác lập được các dấu vết trên mạng của những nhân viên bị chọn lựa, xác định các địa chỉ IP [giao thức kết nối Internet] của những máy tính tại nơi làm việc và máy tính cá nhân cũng như các tài khoản như Skype, Gmail và mạng xã hội như Facebook và LinkedIn. Sau đó họ lập các trang bất chính, được đặt trên các máy chủ FoxAcid, để giả mạo chẳng hạn trang chân dung chính danh của một nhân viên trên LinkedIn.

Đáng nói là trong khi WINTERLIGHT là một nỗ lực phối hợp giữa NSA của Mỹ, FRA của Thụy Điển, cơ quan tình báo và an ninh GCHQ của Vương quốc Anh, các vụ tấn công tin tặc nhắm vào các máy tính và mạng máy tính dường như đã do phía Thụy Điển khởi xướng. FRA cài phần mềm độc hại vào các máy tính bị nhắm tới—trong thuật ngữ riêng ở NSA gọi là “tipping” (mách nước)—để chuyển hướng các tín hiệu của chúng tới các máy chủ do thám, nhờ đó giúp GCHQ và NSA có thể truy cập dữ liệu của chúng, trong những lần truy cập gọi theo thuật ngữ riêng là “shot” (cú/lần). Tại thời điểm cuộc họp vào tháng 4 năm 2013, NSA báo cáo rằng “tháng trước, chúng tôi nhận được một thông điệp từ đối tác Thụy Điển của chúng tôi rằng GCHQ đã nhận được những mách nước FRAQUANTUM mà đã dẫn tới 100 lần truy cập.”

Kể từ khi có những tiết lộ khác thường rằng chính phủ Nga đã tìm cách gây ảnh hưởng tới cuộc bầu cử tổng thống Mỹ năm 2016 với những thông tin đánh cắp từ các máy tính của Ủy ban Quốc gia Đảng Dân chủ (DNC) và các quan chức hàng đầu của Đảng Dân chủ, an ninh mạng đã trở thành một ưu tiên quốc gia cấp bách [của Mỹ]. Như giới chức Mỹ cho biết, vụ tin tặc tấn công DNC chỉ là vụ mới nhất trong một loạt ngày càng nhiều các vụ tấn công trên mạng có dính líu tới Nga nhắm tới các thể chế chính trị và thể chế khác ở phương tây, trong đó có chính phủ và báo chí Estonia vào năm 2007, Nghị viện Đức vào năm 2015, mạng lưới điện của Ukraine vào năm 2015, và báo chí Thụy Điển vào tháng 3 năm 2016. Tuy nhiên, ít được chú ‎ ý hơn nhiều là mức độ mà chính Mỹ đã phối hợp với Thụy Điển và các đồng minh khác để phát triển các công cụ hacking và do thám tân tiến hơn nhiều so với các phương pháp lừa gạt qua e-mail (“phishing”) được dùng trong các vụ tấn công gần đây của Nga. Một đối tượng quan trọng bị áp dụng công nghệ này là chính Nga.

Giới chức NSA mô tả các đồng nghiệp Thụy Điển của họ là “cực kỳ có năng lực, có tính sáng tạo kỹ thuật, và được tín nhiệm”, và khen ngợi họ vì “giỏi thu thập được rất nhiều loại thông tin liên lạc khác nhau”. Đáng nói là FRA của Thụy Điển đã được phép dùng công cụ phân tích mạnh nhất của NSA, gọi là XKeyscore, mà, theo các tài liệu NSA, giúp truy xuất được dữ liệu do thám đại trà của “gần như tất cả mọi thứ mà một người sử dụng làm trên Internet”.

NSA nói thêm trong báo cáo tháng 4 năm 2013 rằng FRA “tiếp tục được truy cập thêm nhiều dữ liệu từ các công ty viễn thông nữa” và rằng luật mới của Thụy Điển cũng đã trao cho FRA các quyền hạn được mở rộng về chống khủng bố. Theo NSA, quyền hạn tổng quát được trao cho FRA đã khiến Thụy Điển trở thành một đồng minh do thám đáng tin cậy hơn Vương quốc Anh. Một tài liệu về chương trình WINTERLIGHT của NSA tường thuật rằng “sự can dự tiếp tục của GCHQ có thể gặp nguy cơ do các hạn chế luật pháp / chính sách của Anh, và trên thực tế mục tiêu của NSA vẫn luôn là . . . một cách phối hợp song phương với đối tác Thụy Điển.”

SwedenNSAVào đầu tháng 6 năm 2013, chưa đầy sáu tuần sau khi phái đoàn Thụy Điển tới Fort Meade, những tường thuật đầu tiên về hoạt động do thám của NSA dựa trên các tiết lộ của Edward Snowden được đăng trên The Guardian và The Washington Post. Trong những tuần và những tháng tiếp theo, các tiết lộ của Snowden về các nỗ lực do thám toàn cầu của NSA, và đặc biệt là chương trình thu thập dữ liệu với số lượng lớn của NSA, gọi là PRISM, đã làm bùng nổ một cuộc tranh luận lâu dài ở Mỹ và rốt cuộc khiến quốc hội Mỹ thực hiện các hạn chế mới với NSA vào năm 2015. Sự kiểm soát tương tự cũng được áp dụng với GCHQ ở Vương quốc Anh và chương trình riêng của cơ quan này gọi là TEMPORA, với mục đích trực tiếp khai thác các cáp quang xuyên đại dương để lấy cái mà báo The Guardian “những số lượng lớn các email toàn cầu, các bài/mục đăng trên Facebook, lịch sử dùng Internet, và các cuộc điện thoại”, mà những dữ liệu này được GCHQ chia sẻ với NSA. Nhưng sự tranh cãi gần như kết thúc ở đó.

Trong những tường thuật xuất hiện trên báo chí Anh và Mỹ, các chương trình của NSA và GCHQ thường được khắc họa là những lầm lạc nguy hiểm—những trường hợp về phạm vi hoạt động tình báo quá rộng của hai chính phủ hùng mạnh nhất trong liên minh phương Tây. Còn khi các chính phủ Châu Âu lục địa khác được nhắc tới, họ lại là nạn nhân của hoạt động do thám của Anh và Mỹ: những mục tiêu bị một trong hai nước này nhắm tới đã bao gồm dinh tổng thống Pháp và mang tiếng nhất là điện thoại di động của Thủ tướng Đức Angela Merkel. Nhưng nếu một số chính phủ Châu Âu chính họ muốn thu thập dữ liệu số lượng lớn về công dân, dùng cùng những phương pháp đó—và có lẽ thậm chí còn ít bị giám sát hơn—thì sao?

Tuy còn nhiều điều chưa rõ về chương trình của Thụy Điển, vị thế của FRA như một trong những đối tác nước ngoài được trọng vọng nhất của NSA nêu ra các câu hỏi lớn về việc liệu các nỗ lực của Mỹ và Anh có quá khác thường. Tuy ít được báo chí quốc tế nhắc tới, bộ máy do thám Internet tân tiến của Thụy Điển đã được chính Snowden lưu ý. Trong lời chứng được ghi hình gởi tới Nghị viện Châu Âu vào tháng 3 năm 2014, Snowden nói, “Về vấn đề do thám đại trà, sự khác biệt giữa . . . NSA và FRA [của Thụy Điển] không phải là về công nghệ, mà là ngân quỹ và nhân lực.” (FRA hiện tại có ngân sách khoảng 100 triệu đô-la và khoảng 700 nhân viên; NSA được cho là có ngân sách khoảng 10 tỷ đô-la và hơn 30.000 nhân viên.)

Giới chức Thụy Điển chưa có phát biểu công khai nào về chương trình hacking WINTER LIGHT, nhưng vào tháng 7 năm 2013, khi Đức và Pháp thúc giục Liên hiệp Châu Âu (EU) thảo luận với giới chức Mỹ để tìm hiểu thêm về hoạt động do thám của NSA của Châu Âu, Thụy Điển cùng với Vương quốc Anh phủ quyết động thái này, cho rằng EU không có thẩm quyền bàn luận các vấn đề an ninh quốc gia và tình báo.

Gần đây, chính phủ Thụy Điển hiện tại, do Đảng Dân chủ Xã hội trung tả đứng đầu, đã thừa nhận rằng Thụy Điển đang mưu cầu các năng lực chiến tranh trên mạng “có tính tấn công”—bao gồm hacking—cũng như công nghệ để phòng thủ trước các cuộc tấn công trên mạng. Mark Klamberg, một học giả luật pháp Thụy Điển từng viết về luật FRA, nói với tôi, “Các tài liệu Snowden đã khẳng định rằng có sự hợp tác rất chặt chẽ giữa Thụy Điển và Mỹ. Ở trên cùng ta có NSA, và dưới đó là GCHQ, và dưới đó ta có . . . Thụy Điển.”

Thực vậy, Thụy Điển đã đi tiên phong về nhanh chóng mở rộng hoạt động do thám của nhà nước trên khắp Bắc Âu. Từ sau lời chứng của Snowden, Châu Âu đã bị nhiều cuộc tấn công khủng bố, và có hàng ngàn công dân được chiêu mộ là binh sĩ nước ngoài ở Syria, có tình trạng phản đối ngày càng tăng đối với di dân và người xin tị nạn. Trong những tháng gần đây, các nước từ Pháp và Đức tới Hà Lan, Áo, Đan Mạch, Phần Lan, và Na Uy đã cân nhắc hoặc đã thông qua luật nhằm cho phép theo dõi dân chúng nhiều hơn.

Vào ngày 17 tháng 11 năm 2016, Nghị viện Vương quốc Anh đã thông qua Đạo luật Các Quyền hạn Điều tra, cho phép chính phủ Vương quốc Anh thực hiện nhiều loại hoạt động hacking và do thám khác nhau; báo The Guardian nhận định rằng luật này cho phép “các quyền hạn do thám rộng nhất trong thế giới phương Tây”. Và với chính quyền Donald Trump sắp nhậm chức nói về việc mở rộng trên quy mô lớn các chương trình an ninh quốc gia ở Mỹ, trong đó có khả năng NSA trở lại thu thập dữ liệu điện thoại với số lượng lớn—được cho là bị bãi bỏ trong luật cải tổ NSA năm 2015—các nền dân chủ phương Tây tân tiến có thể sắp bước vào một thời kỳ mới của việc chính phủ bí mật theo dõi.

Về nhiều mặt, Thụy Điển dường như khó có thể là nước đứng đầu nhiệm vụ này. Thường được xem là một nền dân chủ xã hội kiểu mẫu, nhà nước Thụy Điển nổi tiếng về việc cổ xúy nhân quyền, những sự bảo vệ tổng quát cho các quyền tự do xã hội, trị quốc bằng đồng thuận, và nhà nước phúc lợi quy mô lớn. Ngược với Mỹ và Vương quốc Anh, an ninh quốc gia chưa bao giờ là một nỗi lo hàng đầu: Thụy Điển đã có chính sách trung lập chính thức trong hơn 200 năm, nước này không thuộc NATO, và chỉ đóng vai trò không đáng kể trong “cuộc chiến chống khủng bố”. Trong phần lớn thập niên qua, chính phủ Thụy Điển cũng đã đi đầu trong việc ủng hộ tự do Internet ở các nước đang phát triển, mà Thụy Điển cho là một yếu tố cốt lõi của dân chủ.

Tuy nhiên, với sự vươn lên của Internet, FRA—một cơ quan tình báo chuyên về tín hiệu phát thanh, radar, và các “thông tin tình báo tín hiệu” khác—có nguy cơ lỗi thời. Vào đầu những năm 2000, FRA bắt đầu phát triển công nghệ khai thác các cáp quang dưới biển mà gần như tất cả các email, cuộc điện thoại, và các thông tin liên lạc khác hiện nay đi qua, và vào năm 2007 và 2008, chính phủ Thụy Điển, lúc đó do Đảng Ôn hòa trung hữu đứng đầu, đã đề xuất luật cho phép FRA có quyền rất rộng được truy cập tín hiệu đi qua cáp quang. Cơ quan tình báo này cũng sẽ được lưu trữ siêu dữ liệu (metadata) mà họ lấy được—được biết là trong một cơ sở dữ liệu khổng lồ gọi là Titan—trong một năm. Lúc đó, có những cuộc biểu tình của công chúng ở thềm nghị viện và các tổ chức như Sáng hội Biên giới Điện tử (Electronic Frontier Foundation) ở Mỹ cho rằng các quyền hạn do thám quá rộng lớn như vậy sẽ là vô tiền khoáng hậu. Nhưng vào tháng 6 năm 2008, sau khi chính phủ có một số nhượng bộ, trong đó có thiết lập một tòa án giám sát bí mật, luật này được thông qua với tỷ lệ phiếu sát sao, và sự tranh luận gần như chấm dứt.

Năm năm sau, khi một hãng truyền hình Thụy Điển tiết lộ các tài liệu Snowden cho thấy sự hợp tác rộng lớn của Thụy Điển với NSA để theo dõi người sử dụng Internet—và thậm chí xâm nhập vào máy tính của họ—không có phản ứng gì. Khác với ở Mỹ, ở Thụy Điển không có buổi điều trần ở nghị viện nào. Theo học giả luật pháp Thụy Điển Klamberg, các nghị sĩ không biết gì về nhiều khía cạnh của chương trình FRA và vẫn còn thiếu hiểu biết về quy mô của nó. Ông nói, “Khi luật được ban hành, thông điệp là cơ quan này được quản lý chặt chẽ và chỉ những số lượng dữ liệu nhỏ sẽ được lưu trữ. Nhưng khi tôi nghiên cứu luật và đọc các báo cáo của Hội đồng Thanh tra Dữ liệu Thụy Điển, thì thấy một bức tranh khác hẳn: hoạt động do thám và việc lưu trữ dữ liệu có quy mô rất lớn, nhất là với siêu dữ liệu.”

Theo những nhà phân tích khác, đối với NSA và GCHQ, luật FRA đã bảo đảm cho các chương trình do thám có tính hợp pháp đáng nghi vấn. Hôm 21 tháng 12 năm 2016, Tòa án Châu Âu đã xử thắng cho những người kiện các luật quá bao quát ở Thụy Điển và Vương quốc Anh bắt buộc các công ty viễn thông lưu trữ hồ sơ các cuộc gọi và tin nhắn; tòa phán quyết rằng “luật EU có giá trị hơn một quốc gia quy định việc lưu trữ dữ liệu tổng quát và không phân biệt.” Giới quan sát đã nhận thấy những điểm tương đồng giữa luật FRA với ngôn từ mơ hồ và một luật của Mỹ gọi là Đạo luật Tu chính FISA, mà cũng được thông qua vào năm 2008 và được NSA viện dẫn làm cơ sở pháp lý cho chương trình PRISM của chính mình. chính phủ Thụy Điển cũng đã khéo léo tránh bị giám sát về việc chia sẻ dữ liệu do thám với Mỹ, có lẽ bằng cách giữ cho một số dàn xếp như vậy có tính không chính thức. (Theo một công điện ngoại giao bị WikiLeaks tiết lộ, khi một phái đoàn Mỹ tới Thụy Điển vào tháng 11 năm 2008 để tìm cách ký kết một thỏa thuận chia sẻ thông tin tình báo, các quan chức Bộ Tư pháp Thụy Điển ngần ngại vì cho rằng “các kênh không chính thức hiện có, mà bao trùm nhiều loại hợp tác khác nhau về thực thi pháp luật và chống khủng bố, sẽ bị Nghị viện giám sát chặt chẽ hơn và có thể bị nguy hiểm.”)

Thụy Điển cũng không phải là quốc gia duy nhất ở vùng Scandinavia có hoạt động do thám đại trà trước khi có những tiết lộ của Snowden. Nhiều tài liệu của NSA cũng thắc tới Cục Tình báo Na Uy (NIS), và vào tháng 12 năm 2013, tờ báo Na Uy Dagbladet, phối hợp với ký giả Mỹ Glenn Greenwald, tường thuật rằng Na Uy cung cấp cho NSA hàng chục triệu mẩu thông tin liên lạc mỗi tháng. Dựa trên các tài liệu của NSA và các nguồn tin ở Na Uy, tờ báo này đã tiết lộ rằng NIS cụ thể nhắm tới Nga, “tiến hành do thám các chính khách” cũng như các mục tiêu quân sự và năng lượng của Nga. Báo này cũng cho biết rằng, với sự giúp đỡ của NSA, NIS sắm “Siêu máy tính dẫn xuất Windsor Blue” trị giá hàng trăm triệu đô-la tên là STEELWINTER, để phân tích dữ liệu do thám mã hóa, và NIS phối hợp với ban phân tích mật mã của NSA để làm điều đó.

Giống như Thụy Điển, Na Uy thường được xem là một nền dân chủ xã hội thành công với bề dày thành tích cổ xúy nhân quyền. Na Uy đặc biệt nổi tiếng về những biện pháp mạnh mẽ bảo vệ tự do ngôn luận và về truyền thống minh bạch trong quản lý nhà nước. Giống như Thụy Điển, Na Uy từ lâu đã xếp gần đầu bảng trong các nước phương Tây về những thước đo mức độ tin tưởng của người dân đối với các thể chế nhà nước. Và tuy là một thành viên của NATO, Na Uy cũng đã gần như đứng ngoài rìa cuộc chiến chống khủng bố. Tuy nhiên người dân Na Uy hầu như không băn khoăn trước những tiết lộ về việc chính phủ của mình bí mật hợp tác mới NSA.

Sau khi báo Dagbladet đưa tin về chương trình do thám đại trà của Na Uy, dư luận xôn xao trên báo chí trong một thời gian ngắn. Nhưng người đứng đầu cơ quan tình báo Na Uy hắn định rằng dữ liệu mà Na Uy thu thập là từ các thông tin liên lạc của nước ngoài chứ không phải trong nước, luồng dư luận xôn xao đó đã nhanh chóng lắng xuống. Ở Oslo, Karsten Friis, một cố vấn cao cấp ở Viện Na Uy về Các vấn đề Quốc tế, nói với tôi rằng nhiều người Na Uy hãnh diện vì nước họ đã trở nên rất quan trọng trong các nỗ lực tình báo của Mỹ. Ông Friis nói, “Người ta có cảm giác rằng chúng tôi có khả năng này và chúng tôi không ngại bàn về nó.” Trong một bài viết trên báo Dagbladet, Greenwald phản bác nhận định của người đứng đầu cơ quan tình báo Na Uy, và cho rằng các tài liệu NSA cho thấy rằng dữ liệu đó có thể bao gồm thông tin liên lạc của chính người Na Uy.

Trái lại, người Na Uy không hài lòng về việc bị FRA do thám, vì khoảng 80% lượng truy cập Internet của Na Uy—thậm chí cả thông tin liên lạc trong nước giữa người Na Uy với nhau—đi qua đường Thụy Điển. Một phần do vậy, nghị viện Na Uy bắt đầu tranh luận về dự luật gọi là Các biện pháp phòng thủ Biên giới Kỹ thuật số, mà trên thực tế sẽ trao cho cơ quan tình báo Na Uy quyền truy cập những cáp quang quốc tế tương tự như FRA đang có.

Hồi tháng 10 năm 2016, Bjorn Erik Thon, người đứng đầu Cơ quan Bảo vệ Dữ liệu Na Uy, một cơ quan chính phủ chịu trách nhiệm về các vấn đề quyền riêng tư, với tôi rằng ông rất lo ngại về dự luật này, vì sẽ rất khó ngăn chặn tình trạng dữ liệu của người Na Uy cũng bị thu thập, dù có những kế hoạch “lọc” những dòng dữ liệu xuất phát từ các nguồn của chính Na Uy. Ông nói rằng cơ quan của ông đang soạn một báo cáo phê phán dự luật này. Nhưng ông Thon nói thêm rằng dự luật này hầu như không gặp sự phản kháng nào trong các Đảng chính hoặc trên báo chí và có thể sẽ được thông qua trong những tháng sắp tới. “Ở đây nó không phải là mối quan ngại lớn.”

Hoạt động do thám bí mật của nhà nước đã có lịch sử lâu đời ở vùng Scandinavia. Do vị trí ở mạn bắc của Châu Âu với Nga và phía đông, Bán đảo Scandinavia rất quan trọng với giới chức tình báo phương Tây trong Chiến tranh Lạnh, và cả Na Uy lẫn Thụy Điển đều đã phát triển các chương trình tình báo tín hiệu tinh vi. Theo các tài liệu NSA, NSA đã có các mối quan hệ mật thiết với tình báo Na Uy từ những năm 1950. Với vị trí của Na Uy là cứ điểm phía bắc của NATO nối với phía Đông, mối quan hệ này tiếp tục cho tới thời Gorbachev. Một tờ báo Na Uy gần đây mô tả một trạm bắt tín hiệu ở Vardo, ở vùng cực bắc của nước này dọc biên giới của Na Uy với Nga, là một “cái tai khổng lồ hướng về phía đông”.

Nhưng mối quan hệ của NSA với Thụy Điển có thể là mối quan hệ lý thú nhất. Tuy chính thức có chủ trương trung lập, Thụy Điển trên thực tế thiết lập các mối quan hệ rất mật thiết với cả NATO và giới an ninh Mỹ vào cuối thập niên 1940 và đầu thập niên 1950 và can dự rất sâu vào các hoạt động do thám thời Chiến tranh Lạnh. Với các cơ quan tình báo, người Thụy Điển được công nhận về năng lực kỹ thuật của họ. Theo ký giả và sử gia tình báo người Na Uy Alf Jacobsen, trong thập niên 1970 và 1980, FRA đã dùng đại sứ quán Thụy Điển ở Helsinki để thu thập các thông tin liên lạc quân sự và ngoại giao Liên Sô, dùng các thiết bị do NSA cung cấp; và phối hợp với CIA, Thụy Điển đã giải mã thành công các mật mã ngoại giao của nhiều nước, trong đó có Brazil, Zaire, Trung Quốc, Iran, Thổ Nhĩ Kỳ, Nhật, và Tiệp Khắc.

Trong những năm gần đây, vị trí địa lý gần với Nga và sự phát triển của Internet đã tạo thêm những lý do mới để Thụy Điển duy trì ưu thế kỹ thuật của mình: chỉ có một số rất ít cáp quang nối Nga với thế giới bên ngoài—chỉ có 6 trong hơn 300 cáp quang trên toàn thế giới, theo tổ chức theo dõi cáp quang TeleGeography—và những cáp quang chính đi ngang dưới Biển Baltic. Vào tháng 7 năm 2008, khi Thụy Điển thông qua luật do thám của mình, một công điện ngoại giao từ đại sứ quán Mỹ ở Stockholm, về sau bị WikiLeaks tiết lộ, đã lưu ý rằng, vì “80% thông tin liên lạc dựa trên cáp quang nước ngoài của Nga đi qua Thụy Điển, luật này hợp pháp hóa việc Thụy Điển theo dõi đa số thông tin liên lạc xuyên biên giới của Nga.”

Trong bối cảnh quân đội Nga gây ra những mối nguy ngày càng tăng đối với các đồng minh NATO kể từ sau cuộc chiến ở Ukraine, hoạt động do thám như vậy lại càng quan trọng hơn. Cũng như trong thời Chiến tranh Lạnh, báo chí Thụy Điển thường đăng tin về hoạt động tàu ngầm và quân sự của Nga trong khu vực, và ngày càng có nhiều lời kêu gọi có một liên minh quân sự chặt chẽ hơn với NATO và Mỹ. (Năm 2015, Thụy Điển gia nhập Trung tâm Phòng thủ Trên mạng của NATO, một cơ sở nghiên cứu và huấn luyện ở Tallinn, Estonia, và vào tháng 6 năm 2016, Thụy Điển ký một “”tuyên bố mục đích” với Ngũ Giác Đài, nhằm siết chặt một liên minh quốc phòng.)

Tuy nhiên, việc hoàn tất gần đây của một hệ thống cáp dưới biển Phần Lan gọi là Sea Lion (Sư tử Biển) để chuyển lưu lượng Internet từ Phần Lan trực tiếp tới Đức có thể giúp nhiều thông tin liên lạc của Nga tránh qua ngả Thụy Điển. Mùa thu năm 2016, chính phủ Phần Lan bắt đầu thảo luận luật do thám của chính mình, một phần nhằm truy cập dữ liệu cáp quang mới. Một số nhà phân tích an ninh phương Tây nay xem Biển Baltic là chiến trường chính của cuộc chạy đua vũ trang chiến tranh trên mạng mới. Vào tháng 10 năm 2015, báo The New York Times tường thuật: “Các tàu ngầm và tàu do thám của Nga đang hung hăng hoạt động gần những cáp quang dưới biển trọng yếu chuyển tải gần như toàn bộ những thông tin liên lạc Internet toàn cầu, khiến một số quan chức quân sự và tình báo Mỹ lo ngại rằng Nga có thể đang lên kế hoạch tấn công những đường cáp này khi xảy ra căng thẳng hoặc xung đột.

Trong nhiều câu hỏi nảy sinh do vùng Scandinavia thực hiện do thám đại trà có một câu hỏi đã lởn vởn bên lề cuộc tranh luận về Snowden: Liệu những nền dân chủ tân tiến có khác gì với những chế độ chuyên quyền trong việc tìm cách tọc mạch đời tư của công dân một cách đại trà? Trong một nghiên cứu mới lý thú, hai học giả Thụy Điển Johan Eriksson và JohanLagerkvist đã so sánh các nỗ lực an ninh mạng gần đây của Thụy Điển và Trung Quốc. Theo nhận định của họ, nhìn bề ngoài, hai nước này quá khác nhau: chính phủ Trung Quốc quản lý việc truy cập Internet của công dân thông qua một “tường lửa” mênh mông và hệ thống kiểm duyệt; Thụy Điển cổ xúy tự do Internet—quan điểm cho rằng quyền truy cập Internet không bị hạn chế có thể huy động người dân ở các nước đang phát triển và công khai những vi phạm nhân quyền— trên khắp thế giới. Tuy nhiên khi bỏ qua chuyện quyền truy cập Internet, theo nhận xét của các tác giả, chẳng có mấy khác biệt giữa hai nước này: “Tuy Thụy Điển là một nền dân chủ tự do và Trung Quốc là một nhà nước độc đảng chuyên quyền, cả hai nước này đều có các hệ thống do thám trên mạng tân tiến và gần đây lần đầu tiên thừa nhận các năng lực tấn công trong chiến tranh trên mạng.”

Eriksson và Lagerkvist thấy “hơi khó hiểu” là việc thu thập dữ liệu đại trà và theo dõi thông tin liên lạc chưa trở thành một vấn đề lớn trong các chiến dịch tranh cử ở các nước phương Tây—bất chấp, theo họ, “các vấn đề pháp lý và đạo đức liên quan tới danh dự và quyền riêng tư của công dân, và bản chất không minh bạch của sự do thám của nhà nước.” Những chương trình như vậy đã thường đặt giới lãnh đạo phương Tây vào chỗ mâu thuẫn. Ví dụ, một trong những người cổ xúy mạnh mẽ nhất cho quyền tự do Internet là cựu ngoại trưởng Thụy Điển Carl Bildt. Nhưng Bildt cũng là người biện hộ hàng đầu cho luật do thám năm 2008 của Thụy Điển, mà chính phủ của ông đã vận động thông qua. Khi Bildt được hỏi tại một diễn đàn về quyền tự do Internet vào năm 2013 là ông đã điều hòa hai quan điểm này như thế nào, ông giải thích rằng Thụy Điển thực hiện do thám vì mục đích tốt. Ông nói, “Có sự khác biệt giữa những nhà nước tốt và những nhà nước ít tốt hơn.”

Trên thực tế, chính những phẩm chất đã khiến Thụy Điển và Na Uy trở thành các mô hình thành công của dân chủ tiên tiến cũng có thể đã khiến người dân các nước này dễ chấp nhận việc nhà nước do thám hơn. Ở Na Uy, ủy ban chính phủ đảm trách soạn luật do thám đại trà nay đang được thảo luận ở nghị viện đã lập luận rằng những biện pháp như vậy “có thể được biện minh là cần thiết ở một xã hội dân chủ”. Và như các học giả Thụy Điển và Na Uy nhận định, công dân các nước Scandinavia có khuynh hướng giả định rằng nếu chính phủ nói là cần một số quyền hạn nào đó, thì có lẽ đúng là chính phủ cần.

Ở Oslo, Eirik Lokke, một nhà nghiên cứu thuộc một tổ chức nghiên cứu độc lập ở Na Uy vừa viết một cuốn sách về quyền riêng tư trong thời đại kỹ thuật số, nói với tôi rằng người Na Uy lo ngại nhiều hơn về các quyền lực của Google và Facebook trong việc thu thập thông tin về người dân hơn là lo về việc cơ quan tình báo của họ do thám cho NSA. Ông nhận xét rằng một quan điểm như vậy có thể ngược với ở Mỹ, nơi người tiêu dùng thường xuyên tự nguyện cung cấp phần lớn thông tin nhận dạng riêng tư của họ cho các công ty Internet, trong khi rất nghi ngờ về việc do thám của nhà nước.

Vẫn chưa rõ liệu những nỗ lực của Mỹ nhằm chế ngự NSA có sẽ bền lâu được không, sau khi có những tiết lộ động trời về nạn hacking của Nga và kỳ bầu cử [tổng thống Mỹ]. Ngay cả trước khi các kết luận của CIA được tường thuật trên báo chí, và dù chính Trump không chịu công nhận vụ tấn công tin tặc của Nga, đã có những dấu hiệu cho thấy chính quyền Mỹ sắp nhậm chức sẽ ủng hộ mở rộng đáng kể các quyền hạn do thám. Hồi cuối tháng 11 năm 2016, nhận thấy rằng hai người được Trump đề cử nắm các mảng thực thi pháp luật và tình báo, Jeff Sessions cho chức bộ trưởng tư pháp và Mike Pompeo cho chức giám đốc CIA, là “những người cổ xúy hàng đầu về hoạt động do thám nội địa của nhà nước”, Bloomberg News đã tường thuật: “Trong một động thái đảo ngược các biện pháp hạn chế được áp đặt sau những tiết lộ của Edward Snowden năm 2013 về việc NSA thu thập dữ liệu đại trà, Trump và Quốc hội có thể quyết định khôi phục việc thu thập dữ liệu điện thoại với số lượng lớn, trao lại các quyền hạn thu thập nội dung của e-mail và các hoạt động Internet khác, nới lỏng các hạn chế về việc hack vào máy tính và cho phép FBI kéo dài các cuộc điều tra sơ bộ.”

Tuy tiếp tục làm xói mòn quyền riêng tư của chúng ta, chuyện những biện pháp này sẽ tăng an ninh quốc gia được bao nhiêu là điều đáng nghi ngờ. Chris Soghoian, một chuyên gia về quyền riêng tư và an ninh mạng thuộc ACLU, nói với tôi rằng tuy NSA và các đồng minh đã đầu tư hàng tỷ đô-la vào công nghệ “tấn công” trên mạng, các vụ tấn công khá thô sơ của Nga vào DNC cho thấy mức độ mà chúng ta đã không thực hiện các biện pháp phòng ngừa căn bản chống các vụ tấn công trên mạng ngay tại nội địa. Trong nhiều nghịch lý của kỳ bầu cử tổng thống Mỹ mới đây, một nghịch lý chắc chắn là một làn sóng phẫn nộ dân túy, chống giới chính thống đã bầu lên một chính phủ có thể sẽ thực hiện sự mở rộng hoạt động do thám của nhà nước với quy mô lớn nhất kể từ sau các vụ khủng bố 11-9. Nếu quả đúng như vậy, chính phủ này có thể đồng điệu với một số trong các nền dân chủ mở và tiên tiến nhất ở Châu Âu.

Nguồn: The New York Review of Books, số ra ngày 19-1-2017.

Có thể bạn sẽ thích
Bình luận
Loading...