Đất nước không có nụ cười

Cảnh công an đàn áp người biểu tình chống Trung Quốc tại Hà Nội. Hình chụp lại qua Youtube

Tôi đến đất nước Canada được đúng 2 tháng và 7 ngày khi tôi viết bài viết này. Một sự tình cờ đã cho tôi được nói chuyện với một người Canada có gốc gác từ Ba Lan. Bà cùng gia đình đến tỵ nạn cộng sản tại Canada cách đây 30 năm. Sau một hồi nói chuyện, bà hỏi tôi điều gì làm tôi thấy khác biệt ở Canada và Việt Nam mà tôi thấy ấn tượng nhất, dễ nhìn thấy nhất hàng ngày.  Tôi nghĩ mãi không ra nào là thức ăn, nào là thời tiết, nào là abc… nhưng bà nói tôi đã trả lời sai. Tôi có nói đến tự do, dân chủ. Bà nói với tôi rằng tôi nói gần đúng nhưng không phải là cái mà chúng ta dễ nhìn thấy hàng ngày. Tôi chịu thua. Thế là bà giải thích cho tôi, đó là không chỉ có bà và tôi, mà bất cứ ai đến xứ Canada này từ những nơi tự nhận là “thiên đường” cộng sản thì đều nhìn thấy ở Canada người ta cười nhiều và luôn nói cám ơn. Dường như trên môi của tất cả người Canada đều có nụ cười. Họ không hề cau có bao giờ và thật lịch sự trong cách cư xử dù là nhỏ nhất. Tôi thấy bà hoàn toàn đúng !

Tôi hiểu những gì bà nói. Và tôi chợt nghĩ về đất nước Việt nam của tôi. Tôi thấy đất nước của tôi không hề có những nụ cười thường tình trên môi như những người trên xứ Canada này. Bởi lẽ, đất nước của tôi không thể có những niềm vui !

Nhìn quay lại lịch sử, chúng ta thấy đất nước Việt Nam của chúng ta đã phải trải qua những dấu mốc đau thương được tạo nên từ tội ác của cộng sản Việt Nam. Đảng cộng sản Việt Nam với chính sách sắt máu đã đàn áp các đảng phái đối lập, tôn giáo, những nhà bất đồng chính kiến, những người tranh đấu cho sự tiến bộ xã hội là truyền thống, là việc làm thường xuyên từ khi đảng cộng sản cướp được chính quyền từ năm 1945 đến nay.

Cuộc đấu tố “Cải cách ruộng đất” theo chỉ thị của Stalin và Mao Trạch Đông từ năm 1953 đến 1957 đã cướp đi sinh mạng gần 200 ngàn người Việt và hậu quả của nó không những về người mà còn làm băng hoại đạo đức và văn hóa dân tộc. Cuộc Cách mạng văn hóa chống Nhân Văn Giai Phẩm 1957-1960: Hàng ngàn Trí thức, Nhà Văn, Nhà báo có tư tưởng dân chủ bị vào tù, nhiều người bị chết trong ngục tối. Chiến dịch “chống xét lại” từ năm 1963 tiếp tục bức hại hàng chục ngàn người trong có có cả những đảng viên, đồng chí của đảng.

Dưới sự chỉ đạo của Hồ Chí Minh lúc đó đang là người đứng đầu đảng và nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa năm 1958 đã chỉ đạo Phạm Văn Đồng lúc đó là thủ tướng chính phủ ký công hàm công nhận hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam là của Trung Quốc. Ở đây Hồ Chí Minh và ông Phạm Văn Đồng mắc tội vi hiến, độc tài không thông qua quốc hội cũng như dân ý mà tự quyền đem đất đai tổ quốc cho nước khác.

Đảng cộng sản dưới sự chỉ đạo của Hồ Chí Minh còn vi phạm thỏa thuận ngưng bắn trong dịp tết Mậu Thân năm 1968 với chính phủ Việt Nam Cộng Hòa, và đã tàn sát 6000 dân thường tại thành phố Huế.

Từ năm 1975, sau khi cưỡng chiếm Việt Nam Cộng Hòa nhằm “Thống nhất đất nước” thay vì dùng chính sách “Hòa giải và hòa hợp dân tộc”, nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam lại dùng chính sách trả thù khốc liệt: đánh tư sản Miền Nam, cướp tài sản của mọi tầng lớp nhân dân, đẩy hàng triệu người lên vùng kinh tế mới thực chất là các trại lao động cưỡng bức tại những vùng rừng núi hẻo lánh; đưa hàng trăm ngàn sĩ quan binh lính của Việt Nam Cộng Hòa vào các nhà tù không thời hạn, trải dài khắp đất nước Việt Nam.

Sự trả thù khốc liệt đã khiến hàng triệu người phải tìm đường trốn chạy khỏi đất nước bằng đường biển tạo nên hiện tượng “thuyền nhân / boat people” của thế kỷ 20, khiến hàng vạn người bị chết trên biển.

Từ năm 1990, sau khi khối cộng sản Đông Âu và Liên Xô sụp đổ, nhằm cứu nguy chế độ, nhà cầm quyền Cộng sản buộc phải cải cách kinh tế theo phương thức “kinh tế thị trường”, nhưng lại liên kết với đảng cộng sản Trung quốc tại “Hội nghị Thành Đô” tại Tứ Xuyên – Trung Cộng để duy trì chế độ độc tài cộng sản.

Hàng ngàn người yêu nước tiếp tục bị bức hại, bị vào tù. Đảng cộng sản dùng chính sách “cộng sản hóa” các tôn giáo và các tổ chức xã hội: các sỹ quan an ninh đội lốt thầy tu, nhà sư xâm nhập hầu hết các nhà chùa Phật giáo và nhà thờ Thiên Chúa giáo.

Những cơ sở tôn giáo nào chống lại chính sách này đều bị đàn áp khốc liệt. Những cái tên Thái Hà, Đồng Chiêm, Cồn Dầu, Tam Tòa, Con Cuông, Bát Nhã… trở thành những biểu hiện hãi hùng đối với người dân Thiên Chúa giáo và Phật giáo. Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất bị đàn áp và phong tỏa triệt để. Đại lão Hòa Thượng Thích Quảng Độ (người được đề cử giải Nobel nhiều lần) bị tù và bị quản thúc đến nay vẫn chưa được tự do. Các cơ sở và thánh đường Phật Giáo Hòa Hảo, Cao Đài bị tàn phá, các phật tử thường xuyên bị truy bức, đánh đập thậm chí bị thủ tiêu. Chỉ những cơ sở tôn giáo nào chấp nhận đường lối cộng sản, chấp nhận sự lãnh đạo của đảng cộng sản thì mới được hành đạo. Nhà cầm quyền cộng sản thường dùng những cơ sở này để quảng cáo trước thế giới cho chính sách tôn giáo của họ.

Các tổ chức xã hội: Nghiệp đoàn, Phụ nữ, Thanh Niên, Nông dân… cũng bị tập trung trong một tổ chức “Mặt Trận Tổ quốc Việt Nam” do một Ủy Viên Trung ương đảng cộng sản cầm đầu, thực chất đây là các cơ sở ngoại vi của đảng cộng sản, thực hiện chỉ thị của đảng cộng sản, kiềm tỏa mọi hành động và tư tưởng của người dân.

Hiện nay tại Việt Nam hàng ngàn người Việt đang bị tù đày trong các nhà tù khắc nghiệt chỉ vì bày tỏ lòng yêu nước, bày tỏ chính kiến khác với đảng cộng sản, viết blog để bày tỏ quan điểm, không chấp nhận quan điểm tôn giáo do đảng cộng sản áp đặt.

Tự do báo chí cũng không được tôn trọng. Dù hiến pháp của Việt Nam năm 1946 đã quy định quyền tự do ngôn luận và báo chí nhưng đảng cộng sản Việt Nam tiếp tục vi phạm bằng việc cấm khiếu kiện tập thể, cấm tập trung và lập đoàn lập hội, cấm bày tỏ bất đồng chính kiến và cấm triệt để báo chí tư nhân.